Xem lẹ

Trang nhà > Đền > Đền Đại Lộ

Dai Lo Temple

Đền Đại Lộ

Temple Dai Lo

Thứ Hai 12, Tháng Ba 2018

Đền Đại Lộ còn gọi là đền Lộ, tương truyền có từ cuối TK 14, thờ Tứ Vị Thánh Nương. Xếp hạng: Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia (năm 2014). Địa chỉ: đê Hữu Hồng, thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 20°54’31"N 105°53’35"E, cách Hồ Gươm khoảng 20km về hướng đông-nam. Điểm dừng xe bus lân cận: bến cuối tuyến 08B (Long Biên - Vạn Phúc) hoặc tuyến 08A (Long Biên - Đông Mỹ).

Sân đền Lộ. Panorama (c) NCCong 2018

Lược sử

Đền Đại Lộ tọa lạc tại một khu đất bãi rộng ở ngoài con đê Hữu Hồng, thuộc đất thôn Đại Lộ (xã Ninh Sở, huyện Thường Tín), cách Hồ Gươm khoảng 20km về phía đông-nam. Tương truyền đền được xây dựng từ cuối TK 14 để thờ Tứ Vị Thánh Nương. Theo cuốn sách cổ Việt Điện U Linh, sự tích 4 vị như sau:

“Năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279) đời Trần Nhân Tông, có Trương Hoàng Phạm đem quân đánh úp quân Tống ở Nha Sơn, Trung Quốc. Quân Tống bị tan vỡ, quan tả tướng là Lục Tứ Phu ôm vua Đế Bính [1] cùng nhảy xuống bể, tướng sĩ nhà Tống chết đuối hơn 10 vạn người. Ba mẹ con [Lục] phu nhân ôm lấy cột buồm chiếc thuyền, trôi dạt đến một cái chùa bé ở bờ bể. Sư thầy thương bèn cho mẹ con vào chùa ở và nuôi cho ăn.

Được mấy tháng mẹ con khi đã lại sức trở nên béo tốt, vẻ mặt phu nhân coi tuyệt đẹp, sư động lòng muốn tư thông, bị phu nhân cự tuyệt, sư xấu hổ quá gieo mình xuống bể chết. Mẹ con phu nhân cùng nhau khóc rằng: “Chúng ta vì sư mà được sống nay sư vì chúng ta mà phải chết, sao nỡ yên tâm”. Rồi 3 mẹ con cùng đâm đầu xuống bể chết cả, xác trôi đến Càn Hải [2] thuộc huyện Quỳnh Lưu, phủ Diễn Châu nước ta, vẻ mặt vẫn còn tươi như lúc sống. Thổ dân lấy làm lạ, vớt lên táng, thấy rất hiển linh mới lập đền thờ. Phàm những thuyền đi bể, gặp khi sóng gió nguy hiểm, kêu cầu đều được thoát nạn. Sau, các nơi cửa bể đều lập đền thờ, đền nào cũng có tiếng thiêng”.

Theo nội dung tấm bia đá dựng dưới đời vua Bảo Đại ở ngoài cổng đền thì “Tương truyền vào cuối nhà Trần, khi ấy nước sông Nhị Hà lên to, bỗng nhiên có 4 cái nồi úp dưới cái nón trôi dạt vào bờ sông thuộc bản xã, khiến bản xã không yên ổn. Giữa lúc đó có vị thần báo mộng phải lập ngay đền thờ Tứ Vị Thánh Nương thì mới được yên. Dân làng thấy vậy bèn dựng ngay đền thờ ở đây”.

Trong cung cấm của đền Đại Lộ hiện còn lưu giữ thần phả và 17 đạo sắc phong do vua chúa từ thời Lê cho đến triều Nguyễn ban cho. Năm 2014 ngôi đền được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Kiến trúc

Cổng đền Đại Lộ gồm 4 trụ biểu lớn, hai bên phía ngoài tường có 2 nhà bia đối diện được dựng từ đời vua Bảo Đại. Sau cổng phụ bên trái là một ngôi đền 3 gian thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, sau cổng phụ bên phải có một phương đình treo quả chuông đồng nặng tới 1750kg. Ở giữa là sân tiền đường, hai bên có Lầu Cậu Bơ và Lầu Cô Chín.

Ngôi đền chính gồm 4 nếp nhà kề liền nhau và bài trí khá nhiều ban thờ. Tại tiền cung có Ban Vua Cha Ngọc Hoàng, bên phải thờ vọng Ông Chín Cờn, vị thần được coi là đã vớt xác của Tứ Vị Thánh Nương, vốn được thờ chính tại Đền Cờn Ngoài, Nghệ An.

Chính giữa trung cung thờ Tứ Phủ Quan Hoàng, bên trái thờ Cô Bơ, bên phải thờ Sơn Trang và Mẫu Thượng Ngàn. Chính giữa thượng cung thờ Công Đồng Tứ Phủ, bên phải thờ Tứ Phủ Thánh Cậu và Chầu Đệ Nhị, bên trái thờ Chầu Đệ Tứ và Tứ Phủ Thánh Cô.

Hậu Cung thờ ngai của Mẫu Dương Quý Phi. Cung Cấm thờ tượng của Tứ Vị Thánh Nương được đặt trong khám. Hàng phía trước có 3 pho tượng, hai bên là 2 cô công chúa, ở giữa là bà nhũ mẫu, hàng phía sau là Mẫu Dương Quý Phi.

Lễ hội

Hàng năm, tại đền Đại Lộ, chùa Đại Lộ và đền Quan có một lễ hội được tổ chức trọng thể liền trong 10 ngày, từ mùng Một đến mùng Mười tháng Hai âm lịch. Ngày mùng Một: Buổi sáng, lễ mở cửa đền, lễ cúng khai quang yên vị ở đền Đại Lộ và đền Quan được tổ chức. Buổi chiều, dân làng và du khách thập phương vào lễ Thánh.

Ngày mùng Hai: Buổi sáng, diễn ra lễ tế nhập tịch ở hai đền (đền Quan tế trước, đền Đại Lộ tế sau); Buổi chiều, đội nam tế đền Quan, đội nữ tế đền Đại Lộ. Ngày mùng Ba: Buổi sáng, đội nam tế đền Đại Lộ; Buổi chiều, lễ hạ sắc ở đền Quan và lễ rước sắc về chùa Đại Lộ được tổ chức.

Ngày mùng Bốn: Buổi sáng, rước sắc lên đền Quan, sau đó ra đền Đại Lộ; Buổi chiều, các kiệu ở đền Quan và đền Đại Lộ được rước về sân chùa Đại Lộ để chuẩn bị cho lễ rước nước. Sau đó, đội nam tế đền Quan và đội nữ tế đền Đại Lộ. Ngày mùng Năm: Từ sáng sớm, đoàn rước sẽ rước kiệu, chóe đựng nước cùng đầy đủ lễ vật từ chùa Đại Lộ ra bến Lộ để lên thuyền ra giữa sông lấy nước. Sau đó, nước được rước về đền Đại Lộ để thờ Mẫu. Tại đây, đoàn tế nam làm lễ hạ sắc và rước sắc về chùa Đại Lộ. Đến tối, đội nữ tế đền Đại Lộ.

Ngày mùng Sáu (Chính hội): Buổi sáng diễn ra lễ rước sắc từ chùa Đại Lộ ra đền Đại Lộ, tiếp theo là lễ tế Thánh của đội tế nữ. Buổi chiều và tối, đội tế nam của đền Đại Lộ và các làng lần lượt hành lễ tế Thánh. Đây là ngày chính tiệc của Tứ vị Thánh Mẫu, nên đan xen giữa các lễ tế là các hoạt động hầu Thánh của các đệ tử nhà Thánh với ý nghĩa tưởng nhớ và tôn vinh công đức của người.

Ngày mùng 7, 8, 9: Đội tế nam và nữ ở các đền từ một số địa phương lân cận về hành lễ tế Thánh. Ngày mùng Mười: Lễ hội kết thúc với màn tế giã hội của đội tế nam và đội tế nữ ở đền Đại Lộ, chùa Đại Lộ và đền Quan.

Bản đồ trực tuyến

Từ trung tâm Hà Nội bạn có thể lên xe bus 08B và xuống ở bến cuối Vạn Phúc rồi đi bộ theo đê Hữu Hồng về hướng nam khoảng 300m thì rẽ trái vào đền Đại Lộ. Hoặc bạn lên xe bus 08A và xuống ở Đông Mỹ rồi lấy xe ôm đi tiếp về hướng đông-nam khoảng 3km thì sẽ thấy cổng đền dưới chân đê.

Bạn cũng có thể sử dụng một trong các dịch vụ du lịch Sông Hồng tại số 42 Chương Dương Độ để đi cả một ngày bằng tàu thuỷ và đến thăm 4 địa chỉ văn hóa đặc sắc: đền Đại Lộ, đền Dầm, đền Chử Đồng Tử, làng cổ Bát Tràng.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1vua Tống, lúc đó mới 9 tuổi.

[2tức cửa Cờn, Nghệ An bây giờ.