Xem lẹ

Trang nhà > Đền > Đền Lừ (Lư Giang Từ)

Lu Giang Temple

Đền Lừ (Lư Giang Từ)

Temple Lu Giang

Thứ Bảy 9, Tháng Mười Một 2013

Đền Lừ có từ năm 1399, tên chữ Lư Giang Từ, thờ 2 vị tướng nhà Trần là Phạm Ngưu Tất, Phạm Tổ Thu. Xếp hạng: Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 1994). Địa chỉ: đoạn đường Hoàng Mai chạy dọc sông Kim Ngưu, thuộc phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Toạ độ: 20°59’03"N 105°51’48"E, cách Hồ Gươm chừng 6km về hướng nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: ngã tư Tam Trinh—Tân Mai (bus 26, 30, 38, 42, 207).

Bản đồ trực tuyến

Địa lý

JPEG - 58.4 kb
Trụ biểu cũ trước đền Lừ ©2013 NCCong

Các nhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều công cụ sản xuất thô sơ của thời tiền sử trong khu vực Hoàng Mai, cho thấy nơi đây từng thuộc về địa bàn sinh tụ chính của cư dân Việt cổ. Con sông nhỏ xưa kia chảy qua phía đông huyện Thanh Trì rồi đổ ra sông Hồng có tên Lư Giang, chính là đoạn tiếp nối của sông Kim Ngưu từng nổi tiếng với truyền thuyết “Trâu vàng Hồ Tây”. Lư Giang tức là sông Lừa, dân quen gọi là sông Lừ, vì thế ngôi đền Lư Giang còn có tên đền Lừ.

JPEG - 67.8 kb
Cầu qua sông Kim Ngưu đến đền Lừ ©2013 NCCong

Theo truyền thuyết, trai gái đất này hai nghìn năm trước đây đã theo đô tướng Nguyễn Tam Trinh tham gia cuộc khởi nghĩa chống giặc Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Đến thời Lê sơ, Hoàng Mai cùng với Tương Mai, Mai Động và một số làng phụ cận đã hợp thành vùng Kẻ Mơ (Cổ Mai) nổi tiếng ở kinh thành. Sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi từng viết: “Vùng ấy, đất thì đỏ chín cùng sắc xanh đen, ruộng thì vào loại thượng hạng”. Ngày ấy, dòng sông Kim Ngưu như một dải lụa vắt ngang qua xã, vừa tưới nước cho đồng ruộng lại vừa cung cấp tôm cá cho nhân dân.

JPEG - 49 kb
Sông Kim Ngưu ngày nay ©2013 NCCong

Có câu ca dao:
"Nhĩ Hà quanh bắc sang đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này"

Nhĩ Hà tức khúc sông Hồng uốn lượn bao quanh phía bắc và phía đông kinh đô cùng với Kim Ngưu, Tô Lịch là hai dòng sông con chảy từ phía tây hoàng thành xuống phía nam, đã làm nên "tứ giác nước văn hoá" của Kẻ Chợ Thăng Long xưa. Từ thế kỷ 20, thành phố mở rộng, Kim Ngưu, Tô Lịch đều bị thu hẹp, thậm chí bị lấp mất một đoạn và trở nên những kênh nước thải, ô nhiễm nặng nề không đi thuyền được nữa.

JPEG - 108.2 kb
Bia "Dịch Lư kiều bi ký" ở đền Lừ ©2013 NCCong

Sang thời Lê, vùng Hoàng Mai có Trạm Lư —một dịch trạm lớn nằm trên đường thiên lý vào các tỉnh phía nam. Căn cứ theo tấm bia “Dịch Lư kiều bi ký” (bia ghi về cầu Dịch Lư) do Trạng nguyên khoa Đinh Sửu Nguyễn Khắc Nhu soạn vào năm Phúc Thái thứ 4 (1646) còn lưu lại đền thì ngay lúc bấy giờ cầu Dịch Lư vừa là một phương tiện giao thông, vừa là một cảnh đẹp ở phía nam kinh thành. Sau khi cầu Dịch Lư bị hư hỏng, mùa xuân tháng 2 năm Phúc Thái thứ 2 (1644) dân làng Hoàng Mai đã đóng góp tiền của để làm lại cầu. Tháng 11 năm sau thì hoàn thành. Năm sau nữa, dân làng tạc tấm bia đá lớn dựng trong đền Lư Giang bên cầu để ghi lại sự kiện trên và biểu dương công đức của những người tham gia đóng góp.

JPEG - 68 kb
Mặt sau tam quan mới của đền Lừ ©2013 NCCong

Lược sử

Ban đầu, đền Lừ thờ hai tuỳ tướng của Trần Khát Chân[1] là Phạm Ngưu Tất và Phạm Tổ Thu. Về sau, đền còn thờ thêm công chúa Thủy Tinh và thờ vọng nguyên soái Trần Hưng Đạo.

Tương truyền, năm 1389 Trần Khát Chân đã cho xây dựng “đền Vua” để thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Năm 1399, sau khi ông và các tuỳ tướng bị giết hại, dân làng đã xây thêm ngôi đền Lừ có chung cổng ngõ và sân vườn với đền Vua để thờ 2 tuỳ tướng của Trần Khát Chân. Từ sau 1954, đền Vua bị bỏ, đồ thờ ở đền Vua được rước sang đền Lừ, do đó ở đền Lừ có thờ vọng Đức Thánh Trần.

JPEG - 53.5 kb
Tiền tế đền Lừ ©2013 NCCong

Tư liệu văn bia và truyền thuyết dân gian ở địa phương còn cho biết Thủy tinh công chúa thuộc dòng dõi tướng Hoàng Đình Ái là bà Hoàng Thị Chung sống ở đầu thế kỷ 18 có công giúp dân làng và dân trong vùng bị bão lụt nên sau được thờ cùng với Mẫu Thủy trong đền Lư Giang. Trong tâm thức truyền thống của người Việt, Mẫu Thủy là một trong ba vị nữ thần quan trọng nhất của Tam tòa Thánh mẫu (Mẫu Thiên, Mẫu Thủy, Mẫu Địa).

Để ca ngợi công đức điện thần, có hai bức đại tự trong đền ghi:

  • “Linh sảng thức bằng” (Sáng suốt, thông tuệ, làm khuôn mẫu cho đời)
  • “Thao thủy khôn tinh” (Công đức sánh với nước lớn mênh mông).

Sân đền Lư Giang. Panorama NCCong ©4-2014

JPEG - 61.3 kb
Sân đền Lừ ©2013 NCCong

Kiến trúc

Khu đền Lừ cũ gồm 3 tòa chính, theo hướng đông nam phía trước có hồ bán nguyệt và một bình phong. Tòa tiền tế gồm 3 gian 2 chái với các góc đao cong. Bờ nóc được trang trí đôi rồng chầu mặt trời và hai đầu kìm hướng vào giữa, đầu trắng hoa lam trên toàn bộ thân. Phần khung gỗ của tòa tiền tế có 3 vì đều làm theo dạng cột trốn quá giang. Tiếp sau tòa tiền tế là một lớp nhà ngang gồm ba gian hai chái với các bộ vì kết cấu “chồng giường giá chiêng,” tường hồi bít đốc trơn soi chỉ.

Đền Lư Giang sau nhiều lần trùng tu hiện gồm nhiều nếp nhà nhỏ kế tiếp nhau, ở giữa là một sân gạch đỏ dưới bóng cây xanh mát. Đền bị thu hẹp trong quá trình đô thị hoá, ít nhất cũng đã mất mảnh đất trước cổng cũ vì đường phố nay cách bức bình phong có mỗi chút vỉa hè. Bình phong bị xây liền với bức tường bịt kín mặt đền, bên phải là dòng sông. Cổng mới mở ở bên trái, vừa đặt thêm đôi sư tử Tàu thay cho nghê đá Việt. Có lẽ chỉ còn toà điện chính và hồ nước nhỏ là còn giữ được nét kiến trúc xưa.

JPEG - 79 kb
Chính điện đền Lừ

Lưu ý

Tại đền Lư Giang hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị: 3 đạo sắc do các vua Nguyễn phong cho Mẫu Liễu; hai quả chuông đồng đúc thời Nguyễn; 3 bộ long ngai bài vị; 8 khám thờ gỗ sơn son thếp vàng; 7 bức hồng phi; 8 đôi câu đối gỗ cổ sơn thếp; 4 tấm bia đá thời Lê và thời Nguyễn.

Hàng năm, hội đền Lư Giang được mở hai lần vào tháng tám và tháng ba. Hội tháng tám là hội chính, được tổ chức trong ngày húy kỵ của Quốc công tiết chế Hưng đạo Ðại vương Trần Quốc Tuấn (20 tháng 8 âm lịch). Năm 1994 đền được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

JPEG - 71.5 kb
Kiệu từ đền Lừ đến đình Hoàng Mai. Ảnh Thomom

Trong những ngày hội, ngoài những nghi thức tế lễ trang trọng, dân làng Hoàng Mai còn tổ chức rước thần từ đền tới đình và ngược lại. Đây là dịp để con cháu các đời sau tỏ lòng thành kính với vị anh hùng dân tộc đã có ân đức hộ quốc an dân. Ngoài ra, vào ngày thường thì những vị nữ thần dường như lại có đông con nhang đệ tử hơn những vị nam thần.

Di tích lân cận

Chú thích

[1] Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 23-1-1390, thượng tướng Trần Khát Chân đã cho bắn tập trung vào soái thuyền giết chết vua Chế Bồng Nga, thuỷ quân Chiêm Thành phải bỏ cuộc tấn công Thăng Long và quay về nước. Vua Trần phong đất ở Cổ Mai (tức vùng Tương Mai, Mai Động, Hoàng Mai ở Hà Nội bây giờ) cho Trần Khát Chân làm thái ấp. Đến năm 1399, sau vụ mưu sát Hồ Quý Ly ở Đông Sơn (Thanh Hóa) không thành, Trần Khát Chân bị sát hại, thái ấp cũng bị triệt phá.


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong