Xem lẹ

Trang nhà > Đình > Đình An Thái

An Thai Community Hall

Đình An Thái

Maison communale d’An Thai

Thứ Hai 24, Tháng Chín 2018

Đình làng An Thái (Yên Thái), có từ đầu thế kỷ 18, thờ thành hoàng là vợ chồng ông Dầu bà Dầu, tức Võ Phục Chiêu Ứng đại vương và Thuận Chính phu nhân. Xếp hạng: Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 1994). Địa chỉ: số 596 đường Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 21°02’56"N 105°48’25"E, cách Hồ Gươm hơn 6,5km về hướng tây-bắc. Điểm dừng xe bus gần nhất: các phố Thuỵ Khuê, Hoàng Hoa Thám (bus 14, 45, 90) hoặc Lạc Long Quân (25, 33, 55).

Sân đình An Thái. Panorama ©2015 NCCong

Giới thiệu

Đình An Thái cùng đền thờ (Chiêu Ứng Vương Từ) và lăng ông Dầu là cụm di tích tọa lạc ở ngã ba đường Thụy Khuê – Lạc Long Quân, ngay cạnh chợ Bưởi. Đình này còn có tên là đình thôn Đoài để phân biệt với đình thôn An Thọ (còn gọi là đình Bái Ân), thời thuộc Pháp đều ở trên đất phường An Thái, tổng Trung, huyện Hoàn Long, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Hai đình An Thái – Đoài và An Thái - Thọ cùng thờ chung vị thành hoàng của làng là vợ chồng ông Dầu bà Dầu, được truy phong là Võ Phục Chiêu ứng đại vương và Thuận Chính phu nhân [1].

Nguyên thủy làng An Thái chỉ có đền thờ ông bà Võ Phục được xây dựng từ thế kỷ 12. Rồi mãi tới đời vua Lê Hy Tông (1680—1716) đền này mới được đại trùng tu để trở thành đình làng và thờ hai vợ chồng làm thành hoàng. Sau đó ngôi đình còn được tôn tạo nhiều lần, gần đây nhất là vào thập niên 2000. Đình đã được công nhận là Di tích Văn hoá - Lịch sử Quốc gia tại quyết định số 502-QĐ/BT ngày 28 tháng 4 năm 1994 do Bộ trưởng Văn hóa và Thông tin Trần Hoàn ký.

Kiến trúc

Hiện nay đình nhìn về hướng Nam qua sân và cổng tam quan giáp với mặt phố Thụy Khuê, đối diện với chợ Bưởi. Tam quan xây kiểu 3 gian 2 mái, bên trên có một bức hoành phi ghi 4 chữ Hán Mỹ tục khả phong. Du khách bước qua cổng vào sẽ thấy một sân gạch lớn với hai dãy tả hữu vu 5 gian rộng rãi.

Cuối sân có các nhà bia và phương đình áp gần sát đầu hồi đại bái. Tòa đại bái gồm 5 gian 2 chái, kết nối với trung cung và hậu cung theo hình chuôi vồ. Hàng hiên và bộ khung được các cột tròn cao khỏe khoắn đỡ lấy, bên trên có các mái lợp ngói ta. Bờ nóc của tam quan và đại bái có đắp tượng các cặp linh thú chầu vào vòng âm dương. Hậu cung ba gian trong có đặt long ngai và bài vị của hai vị Thành hoàng làng.

Hiện vật

Hiện nay đình An Thái còn giữ được các cổ vật quý giá như rồng đá, hương án, mũ thờ, hổ phù, sắc phong, thần phả... Các sắc phong từ thời Lê đến thời Nguyễn đều ghi 4 chữ Hộ quốc tý dân (giữ nước giúp dân) là những mỹ từ cao quý dành cho các phúc thần có công lao đặc biệt. Trên bảng thờ thần đề 4 chữ Âm Dương hợp đức (vợ chồng cùng làm việc đức). Ngoài ra còn một tấm bia và câu đối ghi việc bắc cầu qua sông để vào trong thành, chứng giám cho việc quy hoạch thành Thăng Long xưa.

Cổng đình có đôi câu đối ca ngợi ông bà Dầu:
Bạch Hạc tâm đầu lưu thánh tích
Thăng Long thành giác kỉ thần công.

Dịch nghĩa:
Bạch Hạc tâm đầu lưu dấu thánh
Thăng Long thành góc chép công thần.

Trong đình treo một đôi câu đối khác:
Đức mậu an dân công tịnh hiệp
Danh lư vĩnh thế quốc gia phong.

Dịch nghĩa:
Đức thịnh yên dân nhờ hợp sức vợ chồng
Tiếng thơm muôn thuở được sắc phong nhà nước.

Lễ hội

Trước khi mất, ông bà Dầu có dặn lại là “ngày xuân mà tụ hội ca hát thì ta sẽ vui lắm”. Từ đó, đến ngày mùng 10 tháng Hai Âm lịch hàng năm, làng An Thái tổ chức lễ Tế xuân còn gọi là lễ Nghênh thần để tưởng nhớ công lao hy sinh vì nước của hai vị thành hoàng làng. Lễ kỵ được cử hành trước đó vào ngày 30 tháng Một Âm lịch. Theo Minh Đô sử của Lê Trọng Hàm, người vợ nhảy xuống nước rồi người chồng mới nhảy theo. Vì thế hàng năm vào ngày tế thần, lúc nghênh giá thì kiệu vợ đi trước, kiệu chồng đi sau.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1Truyền thuyết kể rằng ông quê ở Bạch Hạc, bà quê ở Minh Tảo, Từ Liêm, làm nghề bán dầu nên được gọi là ông bà Dầu. Dưới đời Lý Nhân Tông, chỗ hợp lưu của sông Tô Lịch và sông Thiên Phù có nước xoáy vào chân thành Thăng Long làm xói mòn, có nguy cơ sụt lở. Nhà vua sai đắp đê ngăn nước nhưng không thành. Lúc này có thần báo mộng: "Sáng sớm ngày nào đó, hễ thấy có một người đến bến sông này trước nhất thì nên theo ý muốn của người ta mà tiếp đãi một cách đầy đủ, rồi quẳng người ấy xuống sông và phong cho làm thần, lập miếu thờ tự thì mới có thể trấn áp được". Quả nhiên sau có vợ chồng ông bà Dầu đi tới. Sứ giả phi ngựa về báo với nhà Vua. Vua có ý thương xót rồi nói: "Nên theo lời của thần đem tình thật mà hiểu bảo người ra, không nên ức hiếp". Ông bà Dầu khẳng khái nhận lời. Sứ giả hỏi: "Bình nhật ông bà thích thứ gì hơn cả?". Ông nói: "Đồ gà mái nấu cơm nếp". Khi ăn xong, ông ngửa mặt lên trời khấn: "Vợ chồng già này bỏ mình theo nước, trời cao có thấu, xin chứng giám cho". Liền đó tự gieo mình xuống nước, lúc ấy là ngày 30 tháng 11. Dòng Thiên Phù trở lại phẳng lặng. Nhà vua trước đó vì lo lắng nên bị đau mắt, nay vui mừng nên bệnh cũng khỏi. Cảm kích công đức của ông bà Dầu, nhà vua cho lập miếu thờ và phong là Chiêu Ứng Phù Vận đại vương và Thuận Chính Phương Dung công chúa, lễ nghi phẩm vật rất long trọng, sắc cho làm phúc thần, rồi lại tìm con cháu về để trông nom, thờ tự.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

xét trước, đăng sau

Diễn đàn này được điều hợp trước: bài vở đóng góp sẽ xuất hiện sau khi được quản trị viên chấp thuận.

Chi tiết về bạn (không bắt buộc)
Votre message