LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Đậu (Thành Đạo Tự)

Pagoda Dau (Thuong Tin)

Chùa Đậu (Thành Đạo Tự)

Đông Tỉnh

Thứ Sáu 11, Tháng Tư 2014

Chùa Đậu tên chữ Thành Đạo Tự 成 道 寺, có từ thời Lý; do thờ nữ thần Pháp Vũ nên còn gọi là Pháp Vũ Tự, chùa Bà hay chùa Vua. Xếp hạng: Di tích lịch sử nghệ thuật quốc gia (năm 1964). Địa chỉ: làng Đậu tức thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Toạ độ: 20°51’32"N 105°52’2"E; cách Hồ Gươm chừng 23km về hướng nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: Quất Động—quốc lộ QL1A (bus 06).

JPEG - 74.2 kb
Miếu Đậu ở đầu làng. Ảnh ©2014 NCCong

Giới thiệu

Du khách thăm chùa Đậu có thể lên xe bus số 06 tuyến Giáp Bát—Phú Xuyên rồi xuống ở bến Quất Động. Rẽ hướng tây vào Khu Công nghiệp Quất Động đi 1,7km sẽ gặp một con kênh nước lặng lờ và ngôi miếu nhỏ dưới gốc đa. Rẽ trái đi tiếp sẽ qua đình rồi tới chùa. Ghé thăm nhanh đình và miếu làng Đậu, chúng tôi thấy cả hai đều mang phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn.

JPEG - 81.4 kb
Đình làng Đậu. Ảnh ©2014 NCCong

Chùa Đậu ở cuối làng, trông cổ kính hơn. Đại Đức trụ trì Thích Thanh Nhung cho biết: Sĩ Nhiếp lập chùa từ đầu thế kỷ 3, đặt tên Thành Đạo tự, rước Đại Thánh Pháp Vũ Đại Bồ Tát về thờ, nên gọi là Pháp Vũ tự. Nhưng tấm bia đặt ở đầu nhà giải vũ bên trái thì nói rõ chùa được xây dựng vào thời Lý.[1]

JPEG - 83.7 kb
Mặt trước chùa Đậu. Ảnh ©2014 NCCong

Đạo Phật khi mới từ Ấn Độ truyền vào nước ta có đem theo việc thờ Tứ pháp (4 vị thần mây, mưa, sấm, chớp), di tích nay còn ở chùa Dâu, tức Pháp Vân tự (Luy Lâu, Bắc Ninh). Tại chùa Đậu hiện có cuốn sách bằng đồng được cho là của Sĩ Nhiếp (137—226), nhưng khó có thể tin là đúng vì trong đó lại chép thơ bằng thể Đường luật (thế kỷ 7) và với văn phong như muộn hơn hàng nghìn năm.

Theo "Sách đồng", chùa Đậu được xây dựng vào thế kỷ 3, cách đây gần 2000 năm. Chùa đã được nhiều đời vua chúa sau đó sửa chữa, tôn tạo. Tấm bia dựng năm 1639 (niên hiệu Dương Hoà thứ 5, đời vua Lê Thần Tông) cho biết ngôi chùa này được tôn tạo dưới triều nhà Lý. Ngoài ra trong chùa còn nhiều viên gạch to thời nhà Mạc và một số bia có niên hiệu Sùng Khang (1566—1577). Cũng theo văn bia, chùa được trùng tu lớn vào năm 1635 (Dương Hoà thứ 1). Sử sách ghi lại ngày xưa chùa Đậu được phong tặng là "Đệ nhất đại danh lam" và chỉ dành cho các bậc vua chúa đến đây lễ bái, cầu an, dân không được vào, vì vậy còn có tên chùa Vua.

JPEG - 81.9 kb
Tam quan chùa Đậu nhìn từ trong. Ảnh ©2014 NCCong

Kiến trúc

Trước mặt chùa Đậu ở hướng đông-nam có một hồ bán nguyệt lớn nối với cổng chính Tam quan bằng con đường ngắn mới làm, hơi lệch chính đạo. Hai cổng phụ cách nhau khoảng 15m, ở giữa là một phương đình hai tầng với những cột lim dựa trên trụ đá. Tầng dưới xây nền cao, chừa ra một lối vào thấp gần bằng mặt sân; có 4 cặp cửa sổ đối xứng ở 4 mặt và hai cửa đi ngang cao 4 bậc. Gian bên trái phương đình có cầu thang gỗ để lên tầng gác, nơi treo quả chuông đúc năm 1801 (Cảnh Thịnh thứ 9, thời Tây Sơn). Trên đỉnh là tám mái ngói lá đề với các đầu đao truyền thống.

JPEG - 65.5 kb
Tiền đường chùa Đậu. Ảnh ©2014 NCCong

Khuôn viên chùa khá lớn, được xây theo kiểu "nội công ngoại quốc". Qua cổng là một sân gạch rộng, có 3 thềm đá 6 bậc lên hiên Tiền đường, hai bên sân có hai tòa giải vũ. Tiền đường rộng 7 gian, nối liền với hai dãy hành lang và nhà Tổ làm thành một khung vuông bao bọc lấy tòa thiêu hương và điện thờ nữ thần Pháp Vũ. Vườn tháp mộ nằm ở phía sau. Các góc sân, vườn đều trồng cây nhưng nay chỉ còn sót lại vài cổ thụ.

JPEG - 86.2 kb
Tiền đường, tả mạc chùa Đậu. Ảnh ©2014 NCCong

Chùa Đậu hiện nay vẫn giữ được 6 bia đá khắc từ thế kỷ 16-18. Tấm bia “Pháp Vũ tự tạo lệ bi” cho biết nhà sư trụ trì Đạo Tâm từng giữ chức Tăng lục ty Tăng thống, một vị trí cao trong giới Phật giáo lúc bấy giờ. Trong chùa còn treo hai tấm biển gỗ sơn son thếp vàng, khắc bài thơ chữ Nôm của chúa Trịnh Căn (1682—1709) và chúa Trịnh Cương (1709—1729). Lại có đôi rồng đá và chiếc khánh đồng đúc năm 1774 với bài minh soạn bởi danh sĩ đời vua Lê Hiển Tông là Phan Trọng Phiên.[2]

JPEG - 51.8 kb
Sân sau chùa Đậu

Tượng nhục thân

Trong chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật. Du khách chú ý nhất bộ tượng Tổ được tạo bằng cách bó sơn ta rồi quang dầu ra ngoài thi hài của hai thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm. Hai vị vốn là chú cháu ruột tu đắc đạo ở chùa vào thế kỷ 17, toàn thân đã hoá thành xá lợi do trai tịnh và toạ thiền lâu ngày trước khi chết.

JPEG - 107.1 kb
Tượng thiền sư Đạo Chân Vũ Khắc Minh trong hộp kính

Tượng Đạo Chân Vũ Khắc Minh cổ hơn nhưng bảo quản rất tốt. Nhục thân đã được bó, hom, lót, thí, mài theo các kỹ thuật truyền thống rồi thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất. Tổng số lớp sơn và thếp vàng là 14 lớp. Trước khi tu bổ, tượng nặng 7kg, nay nặng 7,5kg.

JPEG - 118.8 kb
Tượng thiền sư Đạo Tâm trong hộp kính sau khi phục chế

Pho tượng Đạo Tâm Vũ Khắc Trường từng bị hỏng nặng vào khoảng năm 1983 do ngập nước trong trận lụt lớn. Tượng hồi đó được gia cố bằng đồng. Khung xương nay đã được các nhà khoa học sắp xếp đúng vị trí hơn và phủ bằng nhựa PVC rồi toàn tượng bao kín bằng sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc, chỗ dày nhất tới 22 lớp. Tượng sau khi phục chế nặng 31kg.

JPEG - 92.3 kb
Con kênh làng Đậu. Ảnh ©2014 NCCong

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] Khổ bia 120 x 80 cm. Văn bia có bài minh 56 câu do Thám hoa khoa thi Tân Mùi (1631) là Nguyễn Thọ Xuân soạn. Vài dòng chữ bị đục trước phần ghi tác giả ở mặt sau (ông người xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh, phù Nam Sách, nay thuộc Hải Dương). Nét chữ khắc phóng khoáng, dòng cuối cùng ghi: “Gia Phúc xã trụ trì bản tự tăng Vũ Khắc Trường tự Đạo Tâm thư” (Sư trụ trì chùa ở xã Gia Phúc là Vũ Khắc Trường, tên Đạo Tâm, viết chữ).
[2] Phan Trọng Phiên (1735—1798) tên thật là Phan Văn Độ và Phan Lê Phiên, quê làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP Hà Nội).


Đông Tỉnh