LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Hà (Thánh Đức Tự)

Ha Pagoda

Chùa Hà (Thánh Đức Tự)

Pagode Ha

Thứ Tư 9, Tháng Tư 2014

Chùa Hà kiến lập vào cuối thế kỷ 15, tên chữ Thánh Đức Tự. Xếp hạng: Di tích lịch sử cách mạng (năm 1995). Địa chỉ: 86 phố Chùa Hà, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Toạ độ: 21°2’13"N 105°47’42"E; cách Hồ Gươm chừng 8km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: phố Cầu Giấy (bus 07, 16, 20, 26, 27, 28, 32, 34, 35, 39, 49), hoặc các phố Trần Đăng Ninh (35, 39), Nguyễn Văn Huyên (07, 12, 13, 38, 39).

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

JPEG - 65.5 kb
Tam quan chùa Hà. Ảnh ©2013 NCCong

Tương truyền, chùa được xây dựng từ cuối thế kỷ 15, lúc đầu tường làm bằng gạch vồ, mái lợp lá gồi, tên là chùa Vồi. Tại thượng điện hiện còn một lư hương bằng đồng khắc 3 chữ Hán 聖 德 寺 “Thánh Đức Tự”. Nghe nói tên chữ này có từ đời vua Lê Thánh Tông 黎 聖 宗 (1460—1497), tên hồi nhỏ là Tư Thành. Sử cũ ghi chuyện con trưởng Nghi Dân có tội bị truất, tức khí bèn kết bè đảng một đêm bắc thang kéo vào thành giết em là vua Lê Nhân Tông (1441—1459) và cướp ngôi. Hoàng tử Tư Thành lúc ấy 17 tuổi phải giả gái cùng mẹ chạy về lánh nạn với các ni cô tại chùa Thánh Chúa [1] của thôn Hậu, cũng thuộc xã Dịch Vọng [2]. Khi ấy mẹ con thường tới thăm chùa Vồi ở thôn Tiền gần đó. Chùa Vồi về sau mới có tên chữ là Thánh Đức Tự để kỷ niệm chuyện này.

JPEG - 80.2 kb
Tiền đường chùa Hà. Ảnh ©2013 NCCong

Đến đời vua Lê Hy Tông 黎 熙 宗 (1663–1716), có hai thương gia của làng gốm Thổ Hà (Bắc Giang) sang ở trọ cạnh chùa Vồi để tiện đường phân phối hàng gốm sứ cho các chợ vùng phía tây thành Thăng Long. Do buôn bán phát đạt, hai người này tình nguyện cúng một số tiền công đức lớn cùng nhân dân trong xóm để xây dựng lại chùa bằng gạch ngói vào năm 1681. Từ đó hai làng Thổ Hà và Dịch Vọng kết nghĩa, đặt tên xóm có ngôi chùa là Bối Hà và vì vậy chùa có tên Nôm là chùa Hà. Các ngày kỵ của làng Thổ Hà, nhân dân xóm Bối Hà cử đoàn đại biểu sang dâng lễ, và ngược lại.

JPEG - 90.9 kb
Chùa Hà thu hút thanh niên. Ảnh ©2013 NCCong

Xưa kia, chùa Hà vốn có vị trí giáp cánh đồng ở cuối thôn Tiền của xã Dịch Vọng, gần con đường huyết mạch nối thành Hà Nội với thành Sơn Tây. Và các địa danh nơi đây đã gắn liền với những chiến thắng nổi tiếng trong lịch sử của nước ta. Điển hình là sáng sớm ngày 19-5-1883, quân Cờ Đen mai phục trong chùa Hà đã đổ ra chém chết đại tá chỉ huy Henri Rivière cùng 7 sĩ quan xâm lược Pháp khác vừa dẫn lính vượt Cầu Giấy để đi đánh Xứ Đoài. Về sau, chính phủ Pháp đã cho hồi hương hài cốt Rivière nhưng ngôi mộ cũ của hắn trên phố Cầu Giấy nay vẫn còn dấu vết.

Lại có một chuyện bi hài làm cho cả những học trò không thích môn sử cũng biết đến trận đánh mùa hè năm 1883. Năm ấy triều đình Huế trớ trêu thay lại bắt Tam nguyên Nguyễn Khuyến phải viết điếu văn để tế cái thây không đầu của ngài đại tá. Nhờ thế mà một bài điếu mỉa mai bằng chữ Nôm của ông nghè đã đi vào sách giáo khoa văn học.

Sân chùa Hà. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 80 kb
Tượng Hộ pháp chùa Hà. Ảnh ©2013 NCCong

Tối ngày 17 tháng 8-1945 Uỷ ban khởi nghĩa gồm Nguyễn Khang, chủ tịch, Trần Tử Bình và Lê Trọng Nghĩa đã họp tại Chùa Hà, quyết định hai hôm sau sẽ Tổng khởi nghĩa. Năm 1982, chùa Hà được gắn biển “Di tích cách mạng”. Tháng 12-1996, chùa được Bộ Văn hoá—Thông tin xếp hạng bảo tồn. Tháng 1-2002 tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng ND TP Hà Nội khoá XII đã quyết định đặt tên cho đoạn phố dài 800m rộng 6—8m từ đường Cầu Giấy qua cửa chùa Hà đến phố Tô Hiệu là phố Chùa Hà.

Kiến trúc

Từ Cầu Giấy vượt qua sông Tô Lịch đi về hướng tây khoảng 800m du khách sẽ thấy phố Chùa Hà ở bên phải. Nằm ngay sát vòng xoay ngã năm ở đoạn giữa phố này, tam quan chùa Hà hoành tráng ngảnh về hướng tây, xa xa là dãy núi Ba Vì. Trước cửa chùa xưa kia có một hồ nước đã bị lấp vào cuối thế kỷ 20. Trên một cột trụ có dòng chữ Hán đắp nổi: “Lê Triều Chính Hoà tạo dựng” (Dựng vào niên hiệu Chính Hoà triều Lê, tức năm 1681). Bên cạnh tam quan chùa là cổng đình làng mới sửa lại, trông hơi giống cổng chùa Láng.

JPEG - 35.7 kb
Gác tam quan chùa Hà. Ảnh ©2014 NCCong

Sát liền đầu hồi bên phải chùa Hà là ngôi đình làng, ở giữa là lối đi vào khu nhà hậu. Chùa và đình chung nhau tường bao, làm thành một khu di tích với khuôn viên liên thông. Khu này đã được quy hoạch và trùng tu lớn trong giai đoạn 1995—2003 khi ruộng vườn xã Dịch Vọng bị đô thị hoá dần dần mất hết. Hiện nay tuy các công trình vẫn tuân theo phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn nhưng hầu hết đều thay đổi diện mạo ít nhiều so với thời trước chiến tranh, chỉ tam quan chùa còn lại khá nguyên vẹn và gây ấn tượng lớn nhất.

Sau tam quan chùa là vườn cây và hồ nước nhỏ nhưng đẹp. Toà Tam bảo được xây theo hình chữ “Đinh” với tiền đường rộng 5 gian và hậu cung gồm 3 gian, bên cạnh là điện thờ Mẫu, phía sau là trai đường và khu phụ. Từ khoảng cuối thế kỷ 20, chùa Hà bỗng dưng thu hút được nhiều bạn trẻ đến cầu ước tình yêu và “cắt duyên tiền kiếp”. Con nhang đông đến nỗi gần đây người ta lại xây thêm mấy gian điện thờ ở sau chùa và cả bên đình, làm cho khu di tích càng chật hẹp và tấp nập, khác hẳn cảnh u tịch cổ kính trước kia.

Sân đình Bối Hà. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 54.4 kb
Bái đường đình làng Hà. Ảnh ©2013 NCCong

Mặt bắc chùa giáp liền với nghĩa địa, mặt nam giáp đình làng. Trong đình Bối Hà có điện thờ nhị vị thành hoàng Chu Lý Đại vương và Triệu Chí Thành. Hai vị nhân thần này vốn là tướng của Triệu Việt Vương Quang Phục (?—571), người kế tục Lý Nam Đế lãnh đạo quân dân nước Vạn Xuân chống lại cuộc xâm lược của nhà Lương. Đình cũng có kiến trúc theo hình chữ “Đinh” như chùa Hà. Hiện nay sân trước bái đường đã lắp đặt khung sắt để làm rạp che mưa nắng trong các dịp hội làng.

Lưu ý

Ngoài các bộ cửa võng, câu đối, hoành phi và các pho tượng tròn đều được tô lại mới đây, trong chùa Hà còn có chiếc lư hương cổ nhất đã nói ở trên và một đại hồng chung được đúc dưới thời Tây Sơn. Cuối thời vua Lê chúa Trịnh, loạn lạc triền miên, chùa bị mất quả chuông nguyên thuỷ.

JPEG - 65.8 kb
Tam quan mới của đình làng Hà. Ảnh ©2013 NCCong

Quả chuông thay thế mang niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7 (1799). Chuông cao 1m30, chu vi miệng 1m50, quai hình rồng có vây, chia làm 4 múi khắc long, ly, quy, phượng; phía trên có bốn chữ lớn: “Thánh Đức Tự chung”. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Thỉnh viết trong sách “Di tích và văn vật vùng ven Thăng Long” (NXB Hội nhà văn, HN 1995), bài minh khắc trên cả 4 mặt chuông do giáo xã Nguyễn Khuê soạn thảo là một tư liệu lịch sử quý báu, phản ánh tính chất dân chủ làng xã cũng như ảnh hưởng của chữ Nôm và Phật giáo ở thời Tây Sơn.[3]

Di tích lân cận

Chú thích

[1] Chùa Thánh Chúa nay ở trong khuôn viên trường Đại học Sư phạm HN, cách chùa Hà khoảng 1km về hướng tây.
[2] Dịch Vọng: trạm phục vụ trên đường cái quan xưa, nơi chức sắc đi công cán dừng chân nghỉ ngơi, thay ngựa hoặc đặt tiệc tiễn biệt.
[3] Trong bài minh có đoạn: "Từng nghe: Trong 5 âm thanh của Phật pháp, tiếng chuông được coi là bậc nhất; trong muôn đường tu của con người, phẩm chất phải sửa trước tiên. Kính chúc Hoàng triều yên vui, quốc gia vững chãi, khắp chốn sùng kính thờ Phật, mọi người mở rộng từ tâm. Nay giáp Bối Hà... nước Đại Việt phụng thờ chùa Thánh Đức là nơi cổ tích danh lam, thắng cảnh nổi tiếng. Ngày trước nơi đây, đất Phật trang nghiêm, nào tụng kinh nào chùa tháp. Nhưng rồi bỗng gặp binh biến, nhà chùa im vắng tiếng chuông. Sau đó một lần tìm thợ đúc lại cũng không thành. Mãi đến ngày tốt tháng 11 năm Kỷ Mùi, các bậc quan viên hương lão cùng bốn giáp ra sức bỏ tiền của để lo việc đúc chuông... Rồi đặt nơi thu đồng, nấu đồng làm chuông và đúc thành quả phúc. Chuông này nặng hơn 300 cân, cao một thước sáu tấc..."


Bài và ảnh: Đông Tỉnh