LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Láng (Chiêu Thiền Tự)

Pagoda of Láng

Chùa Láng (Chiêu Thiền Tự)

Pagode Lang

Thứ Ba 25, Tháng Hai 2014

Chùa Láng có từ thế kỷ 12, tên chữ Chiêu Thiền Tự. Xếp hạng: Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia (năm 1962). Địa chỉ: số 114 phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Toạ độ: 21°1’27"N 105°48’10"E, cách Hồ Gươm khoảng 7km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: phố Chùa Láng (bus 09, 35), hoặc đường Láng (16, 24).

JPEG - 126.8 kb
Nghi môn thứ ba ở chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Lược sử

Chùa Láng, tên chữ Hán 昭 禪 寺 (Chiêu Thiền Tự), là một ngôi chùa cổ ở làng Láng (Yên Lãng) ven sông Tô Lịch. Tấm bia còn lưu được ở đây ghi niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 (1656), văn bia do tiến sĩ Nguyễn Văn Trạc viết, giải nghĩa: "Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu, nơi sinh ra Thiền sư Đại Thánh nên gọi là Thiền". Ngày 28-04-1962 chùa đã được xếp hạng Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia

JPEG - 75.2 kb
Sân lớn của chùa Láng. Ảnh ©2013 NCCong

Theo truyền thuyết, Thiền sư Đạo Hạnh (Từ Lộ) hoá ở chùa Thầy, đầu thai làm con của em vua Lý Nhân Tông. Nhân Tông không có con, nên vị cháu này được nối ngôi bác, tức vua Thần Tông (1128—1138). Sau, con của Thần Tông là Anh Tông cho xây chùa Chiêu Thiền để thờ cha và tiền thân của cha là Từ Lộ. Chùa toạ lạc tại trại Yên Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận xưa, gần với chùa Nền được xây trên nền nhà cũ của cha mẹ Từ Lộ là Từ Vinh và Tăng Thị Loan.

Hội chùa Láng và chùa Thầy cùng cử hành vào dịp sinh nhật Đạo Hạnh (7-3 âm lịch). Dân gian có câu ca dao:
Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.

Trong ngày hội, kiệu của Đạo Hạnh còn được rước đến chùa Hoa Lăng ở làng Dịch Vọng Tiền bên kia sông Tô Lịch, nơi thờ bố mẹ ông. Sau đó thường diễn tích “đấu thần”, dân đi theo đám rước sẽ đốt pháo thăng thiên bắn vào chùa Thánh Tổ, nơi thờ Đại Điên — kẻ sát hại Từ Vinh.

Panorama Thang Bui ©2011

JPEG - 108.5 kb
Tam quan ngoại chùa Láng. Ảnh ©2013 NCCong

Kiến trúc

Chùa Láng là một quần thể kiến trúc rộng lớn, được xây dựng theo kiểu “nội Công ngoại Quốc”, tính ra vừa đủ 100 gian to nhỏ. Chùa đã qua nhiều lần trùng tu, quan trọng nhất là vào các năm 1656, 1901, 1989 và 2009, vì thế chỉ giữ được rất ít dấu tích xưa. Hình dáng chùa ngày nay mang phong cách thời Lê và thời Nguyễn. So với các tấm ảnh chụp từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 ta thấy một số cổ thụ đã không còn.

JPEG - 179.4 kb
Tam quan nội của chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Tam quan ngoại chùa Láng hơi giống nghi môn của cung vua phủ chúa thời Lê-Trịnh, bao gồm bốn cột vuông với ba mái nhỏ uốn cong gắn vào sườn cột, mái giữa cao hơn hai mái bên, phía dưới có đôi voi phục hai bên. Hoành phi chính giữa cổng đề 4 chữ Hán “Thiền Thiên Khải Thánh” (trời thiền sinh thánh), bên phải đề “Tuệ Nhật”, bên trái đề “Từ Vân”.

Đứng trước cổng đã có thể thấy được phối cảnh từ xa rất đẹp của ngôi chùa bên trong nhờ những khoảng trống liên tiếp nối nhau dọc theo trục thần đạo. Khoảng trống đầu tiên sau tam quan ngoại là một sân gạch, giữa sân có sập đá để đặt kiệu trong dịp lễ hội và sắp lễ trong các ngày khác.

Panorama Thang Bui ©2011

JPEG - 109 kb
Chính đạo chùa Láng nhìn từ tam quan nội. Ảnh ©2013 NCCong

Cuối sân thứ nhất là tam quan nội, không có cửa và gác chuông, xây kiểu trên hai mái che, dưới bổ mười trụ vuông làm thành ba gian thông nhau, hướng nam-bắc để ngỏ bốn mùa đón gió, hai bên tường vẽ đôi ngựa ngộ nghĩnh màu hồng và bạch. Dải cổ diêm giữa hai tầng mái có trang trí các hình đắp nổi theo tích cổ “Lã Vọng câu cá” và “Tam Cố Thảo Lư” (Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ cầu Khổng Minh).

JPEG - 51.4 kb
Tiền đường, nhà bát giác và giải vũ chùa Láng. Ảnh ©2013 NCCong

Từ tam quan nội có một sân gạch dài thẳng tắp, cách hai bức tường hoa chạy dọc còn có hai con đường song song dưới bóng những cây muỗm rất lớn. Đường trục ở giữa dẫn đến cửa chính của nghi môn thứ ba. Sân gạch sau nghi môn rất rộng và vuông vắn, ở giữa có một ngôi nhà bát giác, hai bên là nhà giải vũ tả vu và hữu vu.

JPEG - 109.8 kb
Chạm rồng ở nhà bát giác chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Nhà bát giác còn gọi là nhà Bảo Cái, nơi đặt kiệu Thánh vào trước ngày hội. Phần dưới mái nhà trang trí bằng những hình rồng chạm nổi rất đẹp. Qua nhà bát giác mới đến thềm rồng 3 bậc để vào chùa chính. Tiền đường rộng tới 9 gian, bên phải có cửa ngách thông với con ngõ dài dẫn vào sân sau của chùa. Dọc ngõ có một hồ nhỏ, tiếp theo là khu nhà ni với giếng nước, vườn chùa và các tháp mộ.

JPEG - 107 kb
Hành lang chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Giống như ở chùa Thầy, tòa tiền đường và trung đường được đặt song song thành hình chữ “Nhị”, xây cách ra vài bước để lấy ánh sáng tự nhiên, đoạn giữa thông nhau bằng ống muống dọc. Hậu cung nối với trung đường làm thành hình chữ “Công”, bài trí điện thờ theo kiểu “tiền Phật hậu Thánh”.

JPEG - 129.3 kb
Chính điện chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Toàn bộ quần thể kiến trúc kéo dài theo chiều sâu nhưng thật hài hòa, cân đối với các không gian rộng rãi và nhiều cây xanh, khiến cho chùa Láng được coi là danh thắng “đệ nhất tùng lâm” ở phía tây kinh thành Thăng Long xưa. Ngày nay tuy bị nhà dân và hàng quán áp sát nhưng nơi đây vẫn thu hút rất nhiều du khách, các cặp tình nhân và người tập dưỡng sinh.

Lưu ý

Trong hậu cung có tượng Thiền sư Đạo Hạnh và tượng vua Lý Thần Tông. Tượng Thiền sư làm bằng mây đan phủ sơn mặc áo cà sa, còn tượng vua tạc bằng gỗ mít đặt ngồi lên ngai vàng. Hai bức hoành phi treo phía trên đề chữ Hán “Lý Triều Thánh Đế” và “Thánh Cung Vạn Tuế”.

JPEG - 166.6 kb
Động Thập điện ở chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Động thập điện Diêm Vương ở hai đầu hồi nhà hậu cung là những tác phẩm điêu khắc đẹp, diễn tả những hình phạt ở các tầng địa ngục. Hai dãy hành lang bày tượng 18 vị La Hán, dẫn thẳng xuống nhà thờ Tổ. Ban thờ Tổ ở giữa, các gian khác thờ Tam Tòa Thánh Mẫu và Tứ Vị Vương Bà. Khối kiến trúc nói trên tạo thành một vành đai hình vuông bao quanh sân vườn.

JPEG - 98.4 kb
Tượng ở tiền đường chùa Láng. Ảnh ©2015 NCCong

Ngoài ra tại đây có hai lầu gác, nơi treo một quả chuông “đại hồng chung” và một khánh lớn bằng đồng đúc năm Thiên vận Mậu Ngọ (1738). Chùa Láng lưu giữ được 198 pho tượng lớn nhỏ, 39 hoành phi, 31 câu đối, 15 tấm bia đá, 12 đạo sắc phong của các vua triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Tấm bia tạo dựng năm 1656 cao 1,4m, rộng 0,8m; trán bia có hoa văn lưỡng long chầu nguyệt, hai diềm bia chạm phượng chầu hoa sen và hai tiên nữ với đôi cánh rướn bay lên trời xanh. Đáng tiếc cuốn sách kinh “Bát diệp đồng thư” bằng đồng lá đã bị mất.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến


Đông Tỉnh