Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Pháp Vân (Thường Tín)

Phap Van Pagoda

Chùa Pháp Vân (Thường Tín)

Pagode Phap Van

Thứ Sáu 16, Tháng Ba 2018

Chùa Pháp Vân còn có tên chữ Bồ Đà Tự, dân gọi là Đền Bà Sáng hay chùa Hai Bà, thuộc hệ thống thờ Tứ Pháp. Xếp hạng: Di tích lịch sử - kiến trúc - nghệ thuật quốc gia (năm 1991). Địa chỉ: thôn Văn Giáp, xã Văn Bình, huyện Thường Tín, Tp. Hà Nội. Toạ độ: 20°52’41"N 105°51’38"E; cách Hồ Gươm gần 18km về hướng nam. Điểm dừng xe bus lân cận: đoạn QL1A qua trạm biến áp 500kV ở phía bắc thị trấn Thường Tín (bus 06a, 06b, 06c, 06d, 06e, 62, 94, 101)

Lược sử

Thôn Văn Giáp với thôn Văn Hội trước khi tách làm hai vốn là một trang, nơi từ xưa đã có ngôi chùa thờ Bà Pháp Vân, dân quen gọi chùa Hai Bà hay đền Bà Sáng. Tại đây, trên tấm bia đá dựng năm 1616 thời Lê Trung hưng có ghi tên “Bồ Đà Tự”, còn sách Đại Nam nhất thống chí chép đích danh "chùa Pháp Vân". Trịnh Lý Hưởng, tiến sĩ khoa Đinh Mùi thời Lê, đã cúng chùa này đôi câu đối:

  • Duy nhất cố thần dung thụ đinh thanh truyền vạn cổ
  • Hữu đảo nhiếp ứng thử địa bồ đà úy song từ. [1]

Có một lần tu sửa, nhà chùa đã ghi niên đại Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) trên câu đầu của thượng điện. Trong tư liệu của chùa cũng kể câu chuyện tương tự như sự tích chùa Dâu (Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh). Theo đó, thôn Văn Giáp từng có hai ngôi chùa Pháp Vân và Pháp Lôi, thuộc hệ thống thờ Tứ Pháp. [2]

Sau khi chùa Pháp Lôi bị tàn phá, dân làng Văn Hội rước tượng Pháp Lôi về thờ tại chùa Văn Hội. Hiện nay tại thôn Văn Giáp chỉ còn chùa Pháp Vân và cách đó 7km tại thôn Gia Phúc là chùa Đậu thờ tượng Pháp Vũ. Lễ hội Pháp Vân được tổ chức hàng năm vào dịp Phật đản và kéo dài từ mồng 7 đến mồng 9 tháng 4 âm lịch. Năm 1991 chùa được xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.

Sân chùa Pháp Vân. Panorama ©2018 NCCong

Kiến trúc

Du khách đi theo QL1A đến đầu phố Ga ở phía bắc thị trấn Thường Tín sẽ thấy tấm biển đề tên chùa Pháp Vân. Rẽ qua đường sắt thì gặp con mương dài với cây cầu hướng thẳng vào một cổng ngách dưới gốc đa to. Phía trái bãi đỗ xe mới có một cây cầu với đôi rồng đá và một tam quan ngoại dẫn vào khu vườn trước cổng chùa.

Tại ao chùa cạnh ngôi đền nhỏ cũng mới xây thêm một cầu bắc ra tượng đài Quan Âm Nam Hải. Đức Bồ tát nhìn về Tam bảo qua tam quan nội. Cổng này gồm 4 trụ biểu cao to và 2 cửa phụ. Sau cổng là một sân gạch chạy dài, ở phía tây có mấy cây nhãn cổ thụ che bóng một tượng đài Quan Âm Nam Hải khác đã dựng cách đây hơn chục năm, lưng tượng quay ra thửa ruộng chùa.

Trải qua nhiều lần tôn tạo, ngôi chùa đã định hình từ thời Nguyễn với bố cục kiến trúc theo kiểu “nội Công ngoại Quốc”, mặt quay về hướng nam. Tòa đại bái rộng 21m, sâu 9m, gồm 5 gian 2 chái, xây 2 tầng 8 mái. Các đầu đao cong đắp hình rồng, trên nóc đắp hình kìm ngậm bờ nóc. Vì nóc kiểu chồng rường, trên gác có treo một đại hồng chung đường kính 1m05, cao 1m9, đúc năm 1954. Bên dưới có 4 hàng chân gỗ với 16 cột cái có xà nách đua ra 16 cột quân, các xà nách đồng thời là giá đỡ tạo thành một hành lang cao ngang phần cổ diêm, rộng 0,5m, lát ván có thể đi lại.

Tòa tiền đường gồm 3 gian, Phật điện ở giữa, hương án xây 3 tầng, trang trí bằng các họa tiết đắp nổi rồng, nghê và hoa sen cách điệu, hai gian bên thờ Đức Ông và Đức Thánh Hiền, treo chuông và khánh đồng. Hai bên hậu cung có hai dãy hành lang, phía sau thượng điện là sân nhỏ với cây cảnh rồi đến hậu đường mới xây để thờ Tổ và thờ Mẫu. Bên hữu là vườn bưởi và nhà ở, bên tả là ao nhỏ và nhà khách.

Lưu ý

Trong chùa vẫn lưu giữ được nhiều cổ vật và những đồ tự khí quý giá. Trước hết là tấm bia đề "Pháp Vân tự bi ký", được dựng năm Hoàng Định thứ 17 (1616) tại hiên chùa. Văn bia nói về việc sửa chùa, tu tạo hậu đường và hành lang do bản tự tăng đạo duệ Nguyễn Tiềm đứng ra hưng công của dân làng cùng một số quan lại, đô đốc, quận công và các phu nhân quê quán ở trong, ngoài vùng.

Trước hiên đại bái có đôi rồng đá cũng tạc từ thời Lê Trung hưng. Cuối ống muống, ở phần hạ diệp có trang trí 2 bức phù điêu lớn khắc tích “độc long”. Trung tâm bức này là hình một con rồng lớn, đầu hướng vào thượng điện, xung quanh điểm xuyết các đề tài tứ linh, hoa lá.

Gian giữa thượng điện có một khám gỗ với mái như mui thuyền, 3 tấm che xung quanh bằng gỗ sơn mài, khảm trai với đề tài “long vân tụ hội”, lắp bản lề để nâng lên khi bao xái tắm tượng. Trong khám thờ đặt tượng Pháp Vân bằng gỗ, cao 1m3, sơn màu cánh gián. Tượng tạc ngồi xếp bằng hai chân, tay trái đặt trên đùi, tay phải giơ lên hướng về trước, đeo trang sức, khuôn mặt phúc hậu, mắt nhìn xa xăm, cổ cao ba ngấn. Ngài mặc yếm, có giải lưng tạc liền vào thân và thắt múi phía trước, tuy đội mũ Kim Phật nhưng đỉnh đầu để lộ búi tóc.

Trước thượng điện là một bát hương lớn và đôi vẹt gỗ từ thế kỷ 18. Vẹt được sơn son thếp vàng, cao 2m2, tạc liền với chân, thân và mỏ khoằm, lông vũ trên cổ được cách điệu như râu rồng. Còn có 2 cỗ kiệu long đình rất tinh xảo và hai bức cửa võng chạm nổi lưỡng long triều nguyệt điểm xuyết hình tứ linh. Đặc biệt có cuốn sách làm năm Canh Tý đời Thành Thái (1900), bìa đồng đề tên "Nam Thiên nhị pháp sự tích chân kinh phụng lục" bằng chữ Hán dát vàng, trong ghi sự tích chùa Pháp Vân trên 8 trang bạc lá khổ 13cm x 22,5cm.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1Tạm dịch: "Tích truyền muôn đời, một thần tạc từ gỗ cây dâu / Cầu đảo linh ứng, hai đền xây trên đất bồ đề"

[2"Mùa thu năm đầu triều Lý Nhân Tông (1072), trời mưa tầm tã, úng lụt nhiều nơi. Vua cho rước tượng Bà từ Luy Lâu về chùa Báo Thiên làm lễ cầu đảo, lễ xong trời quang mây tạnh. Đến năm Thái Minh thứ ba (1074) trời lại đại hạn, cây cối héo khô. Vua cho cầu đảo nhưng không hiểu sao mưa chỉ xảy ra ở vùng gần Kinh thành, liền hạ lệnh tổ chức rước các Bà đi các phương thì đều được mưa lớn. Khi rước đến xứ Bồ Đà thuộc địa phận Văn Giáp (huyện Thường Tín ngày nay) thì mưa to, sấm chớp nổi lên và làm cho bầu trời mây đen vần vũ, tối đen như mực, pháp giá phải dừng lại không đi được nữa, một lát sau thấy trời quang mây tạnh, pháp giá tiếp tục đi. Nhưng không hiểu vì sao chỉ có hai tượng Pháp Vân và Pháp Lôi thì không đi được. Các quan tâu báo với vua. Nhà vua liền phán rằng ”Sinh ra ở phương Tây, muốn trấn ngự ở phương Nam, đất này ắt có linh khí”, bèn cấp tiền của để dựng lại hai ngôi chùa thờ các bà Pháp Vân và Pháp Lôi. Đồng thời ban chỉ miễn thuế, cấp ruộng tự điền để dân lo việc đèn hương thờ cúng".