LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Phùng Khoang (Thanh Xuân Tự)

Phung Khoang Pagoda

Chùa Phùng Khoang (Thanh Xuân Tự)

Pagode Phung Khoang

Thứ Năm 20, Tháng Ba 2014

Chùa Phùng Khoang là một di tích cổ có từ trước năm 1623, tên chữ Thanh Xuân Tự. Xếp hạng: Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (năm 1991). Địa chỉ: phố Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Toạ độ: 20°59’16"N 105°47’36"E, cách Hồ Gươm khoảng 10km về hướng tây-nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: ngã phố Trần Phú—Phùng Khoang (bus 01, 02, 19, 21, 22, 27, 39) trên quốc lộ cũ QL6 từ Hà Nội đi Hà Đông.

JPEG - 73.7 kb
Cổng làng và chùa Phùng Khoang. Ảnh ©2014 NCCong

Từ Ngã tư Sở đi theo đường Nguyễn Trãi về hướng Hà Đông, du khách qua ngã tư Khuất Duy Tiến chừng 1km thì sẽ đến một ngã ba nối với con phố nhỏ Phùng Khoang. Rẽ vào phố này đi về hướng tây-bắc khoảng 200m, qua hết chợ Phùng Khoang sẽ thấy một hồ bán nguyệt ở bên phải và trước mặt là chiếc cổng được xây năm 1951, trên có đắp nổi tên làng bằng cả chữ Hán lẫn Quốc ngữ.

Lược sử

Làng Phùng Khoang có đông giáo dân và Phật tử cùng chung sống. Cánh đồng làng xưa kia trù phú nên có câu ví "Tiền làng Mọc, thóc làng Khoang". Từ giữa thế kỷ 20 sân vận động trường Đại học Hà Nội và trụ sở nhiều cơ quan đã mọc lên ở đây. Cả vùng nay đã đô thị hoá hết nhưng một số công trình kiến trúc đẹp như đình, chùa và nhà thờ cũ thì vẫn còn nguyên vẹn.

Làng cũng đã trải qua lắm đổi thay hành chính. Thời Lê, tên làng là Phùng Quang, thuộc về xã Nhân Mục Môn, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 1723 làng chuyển sang huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Thời Nguyễn đổi về xã Ngọc Trục, tổng Đại Mỗ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Năm 1964 nhập vào xã Trung Văn, huyện Từ Liêm; sau đổi thành phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tên chùa cũng là tên của quận liền kề.

Tiền đường chùa Phùng Khoang. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 132.9 kb
Cổng chùa Phùng Khoang ở sau cổng làng. Ảnh ©2014 NCCong

Sử đương thời cho biết “tháng 6 năm Quý Hợi, Chúa Trịnh Tùng bị cảm nên cùng các quan văn võ bàn lập Thế tử để giữ binh quyền, cho con thứ là Vạn quận công Trịnh Xuân làm Phó tướng. Hôm sau, Xuân bất mãn liền đem quân lính tấn công phủ Chúa, cướp vàng bạc, voi ngựa rồi đốt phủ. Trịnh Tráng sai tướng hộ tống Chúa chạy ra xã Hoàng Mai, còn Tráng chạy ra chợ Nhân Mục triệu tập quan binh. Chúa phải nhờ em là Phụng Quốc công Trịnh Đỗ dụ hàng Xuân, nói dối rằng Chúa gọi Xuân vào để giao binh quyền. Xuân đến thì bị bắt trói, kể tội rồi giết chết. Sau cha con Đỗ định làm phản nên Tráng phải đưa Chúa đến quán Thanh Xuân, huyện Thanh Oai thì Chúa qua đời ở đấy”. Nếu đúng thế thì năm 1623 chùa còn là Đạo quán.

JPEG - 71.6 kb
Đình và nhà thờ Phùng Khoang. Ảnh ©2014 NCCong

Tấm bia đá cổ nhất còn giữ được trong chùa khắc năm Chính Hòa 13 (1692) thì viết là chùa: “Thường xem đất Phật ở trời Nam xứ nào cũng có. Duy chỉ có chùa Thanh Xuân, thôn Phùng Khoang, xã Nhân Mục là danh lam thắng cảnh lâu đời”.

Đến thời Nguyễn, “Việt sử thông giám cương mục” cũng viết: “Năm Quí Hợi tháng Sáu mùa Hạ, Trịnh Xuân bất mãn đốt nhà cửa, phố xá trong kinh thành. Trịnh Tùng đang ốm phải lên xe dời khỏi kinh thành. Ngày 20, Chúa mất ở chùa Thanh Xuân.”

Đời Tự Đức, năm Đinh Sửu (1853) ông trưởng mục Nguyễn Huy Trâm cùng dân làng đã dời ngôi chùa về phía nam thôn, tu tạo chính đường, bái đường, tam quan, tất cả đều lợp ngói lá đề, xung quanh có tường bao. Hai tấm bia dựng năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) và Bảo Đại thứ 19 (1944) cho biết công chúa Ngọc Nga đã cho dựng ngôi chùa này ở ven đường làng để thờ Phật. Bà cũng có công xin cho Phùng Khoang có một phiên chợ riêng họp vào ngày 28 tết hàng năm, do vậy chợ làng còn gọi là chợ Chùa và trong chùa có am thờ công chúa.[1]

Thuỷ đình chùa Phùng Khoang. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 121 kb
Tam quan chùa Phùng Khoang. Ảnh ©2014 NCCong

Kiến trúc

Cổng ngõ chùa Phùng Quang ở ngay sau cổng làng, dọc ngõ có các cửa ngách ở hai bên tam quan. Mặt chùa nhìn về hướng đông-nam, sân trước có cầu dẫn ra toà thuỷ đình. Tam quan lợp ngói ta, xây hai tầng đơn giản, giống như kiểu tam quan của chùa Kiến Sơ và chùa Láng nhưng trên gác chuông treo quả chuông đồng đúc năm 1813, trong gian bên phải cạnh chân cầu thang lại có tấm bia hậu được dựng từ năm 1692.

JPEG - 84.6 kb
Chợ Phùng Khoang. Ảnh ©2014 NCCong

Bước qua cổng tam quan, du khách sẽ vào một sân gạch dẫn đến bậc thềm của toà tiền đường 5 gian, bên phải có một am nhỏ thờ công chúa Ngọc Nga. Toà hậu cung cũng rộng 5 gian, ở giữa là nhà cầu với 5 bức nghi môn, tất cả được kết nối với tiền đường theo kiểu chữ “đinh”. Nhà Tổ ở bên cạnh Tam bảo, bên trong thờ ba vị tổ của chùa. Nhà Hậu, nhà Mẫu được xây muộn hơn. Khuôn viên có tổng diện tích 5880m2, xung quanh và phía sau là các cây xanh. Chùa gần đây lại được trùng tu và làm thêm một thuỷ đình trên hồ bán nguyệt với pho tượng Quán thế âm Bồ tát đứng bên trong.

Chùa Thanh Xuân hiện giữ được 6 tấm bia đá và 3 chuông đồng lớn niên hiệu Gia Long 12 (1813), Tự Đức 31 (1878), Tự Đức 34 (1881). Ở toà Tam bảo còn tấm bia “Trùng tu Thanh Xuân tự bi ký” dựng năm Tự Đức 31 và tấm bia tương tự dựng năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) do Phó bảng Đỗ Huy Điền, người làng Tây Mỗ soạn. Lại có 29 đôi câu đối, 23 hoành phi gỗ, 4 cuốn thư sơn son thiếp vàng; 23 pho tượng Phật, Tổ, Mẫu và 1 tượng công chúa Ngọc Nga. Tất cả đều tạo tác theo phong cách nghệ thuật tiêu biểu của thế kỷ 19.

Di tích lân cận

  • Chùa Thanh An: thôn Yên Xá, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì.
  • Đình Cầu Đơ: đoạn giữa phố Quang Trung, phường Hà Cầu, quận Hà Đông.
  • Đình Phùng Khoang: đoạn giữa phố Phùng Khoang, phường Trung Văn, Q. Nam Từ Liêm.
  • Đình Triều Khúc: đoạn cuối phố Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì.

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] An Thái công chúa Ngọc Nga: con gái thứ bảy của vua Gia Long và Tiệp dư Dương Thị Dưỡng. Năm 1818, gả cho Vệ úy Nguyễn Đức Thiện, năm ấy Thiện chết, không có con. Sau lại lấy Trấn Tây Lãnh binh Vũ Viết Tuấn, có 3 con trai, 2 con gái. Năm 1840 Tuấn đem quân cứu viện đồn Sa Tôn, bị thương nặng rồi chết. Năm 1856 bà mất, thọ 61 tuổi, thụy Nhu Hòa. (Xem: Đại Nam Liệt Truyện–Tập 2: Chính biên–Sơ tập, QUYỂN 3: TRUYỆN CÁC CÔNG CHÚA, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn).


Đông Tỉnh