LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự)

Master Pagoda

Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự)

Pagode du Maitre

Thứ Sáu 4, Tháng Tư 2014

Chùa Thầy, tên chữ Thiên Phúc Tự, là một trong những danh lam bậc nhất của nước ta. Xếp hạng: Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt (năm 2014). Địa chỉ: làng Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Toạ độ: 21°01’21"N 105°38’40"E, cách Hồ Gươm hơn 20km về hướng tây. Du khách có thể lên các xe bus số 71, 74 chạy theo tuyến Mỹ Đình—Hoà Lạc rồi xuống bến Chùa Thầy và đi tiếp khoảng 2km về phía bắc đại lộ Thăng Long thì đến nơi.

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

JPEG - 83.5 kb
Cửa hang Cắc Cớ (Thần quang động). Ảnh ©2014 NCCong

Xưa kia núi Sài Sơn tên là Phật Tích, trên lưng chừng núi có am Hiển Thụy, còn gọi am Hương Hải. Từ Đạo Hạnh (1072—1116), một vị thiền sư thế hệ thứ 12 thuộc tông phái Tì-ni-đa-lưu-chi đã đến đây tu hành trong những năm cuối đời cho đến ngày thoát xác trong hang Thánh Hoá. Theo sử sách thì đương thời vua Lý Nhân Tông 李 仁 宗 (1066—1127) đã cho dựng lại am Hương Hải thành ngôi chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) và xây thêm chùa Cả (Thiên Phúc Tự) ở gò đất ven hồ dưới núi.

JPEG - 92.4 kb
Chùa Cao ven đường lên đỉnh Sài Sơn. Ảnh ©2014 NCCong

Sau này dân làng gọi nôm na núi Sài Sơn là núi Thầy và chùa Thiên Phúc là chùa Thầy. Tương truyền hậu thân của Từ Đạo Hạnh trở thành vua Lý Thần Tông 李 神 宗 (1116—1138), vì thế trong chùa có thờ các tượng của cả hai người. Đến đầu thế kỷ 17, lại có Dĩnh Quận công cùng hoàng tộc nhà Mạc đã cho trùng tu ngôi chùa Cả, xây thêm điện Phật, điện Thánh; sau đó làm nhà hậu, nhà bia, gác chuông. Tới thời Nguyễn và gần đây, hệ thống các chùa trong cụm di tích chùa Thầy đều tiếp tục được sửa chữa và mở rộng.

JPEG - 50.8 kb
Hồ Long Chiểu, chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Sài Sơn từ lâu đã trở thành một danh thắng hữu tình bậc nhất cho những ai mến cảnh chùa yên tĩnh hoặc ưa mạo hiểm trèo lên đỉnh núi và mò mẫm trong các hang tối. Nơi đây vẫn còn những bài thơ tức cảnh xưa kia của các danh nhân như tiến sĩ Nguyễn Trực (1416—1473) và hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868—1925) được khắc trên vách chùa Cao.

JPEG - 99.9 kb
Trên vách đá chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Trong một bài ký ghi trên vách núi, chúa Trịnh Căn (1633—1709) đã vẽ cảnh chùa Thầy như sau:

“Như viên ngọc nổi giữa miền sỏi đá,
Rạng vẻ xuân tươi khắp cả bốn mùa.
Động trên hệt như cõi thanh hư,
Bên vách còn in mây ráng.
Ao Rồng thông sang bến siêu độ,
Cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng.
Hình tựa bình phong,
Sông như dải lụa”.

Sân trước chùa Cả. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 85.6 kb
Tháng Ba, hoa sưa trắng Sài Sơn. Ảnh ©2014 NCCong

Tương truyền nơi đây có một hòn đá trấn long mạch, trải qua nhiều lần tôn tạo lại chùa, hòn đá vẫn được giữ nguyên ở chỗ cũ. Dân làng tin rằng nếu như làm lệch thì hậu họa sẽ rất khôn lường vì bên dưới hòn đá kia có lá bùa của Từ Đạo Hạnh. Ngài ra đi đã lâu nhưng còn để lại nhiều câu chuyện kỳ lạ khác mà từ đó sinh ra một lễ hội lớn của làng Láng và làng Thầy tổ chức cùng ngày. Dân gian có câu ca dao:
“Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy”

Hội làng diễn ra từ ngày mùng 5 đến mùng 7 tháng ba Âm lịch hàng năm, khi tiết trời mát mẻ, hoa gạo nở đỏ trời, hoa sưa rụng trắng đường và sương mù che mờ đỉnh Sài Sơn. Đông đảo tăng ni, phật tử từ cả các nơi khác về đây dự lễ cúng Phật và trai đàn. Ngoài nghi thức tôn giáo, trên hồ Long Chiểu còn diễn trò rối nước mang đậm sắc thái dân gian và độc đáo trên trường quốc tế.

JPEG - 82.2 kb
Cây gạo cụt trổ hoa vào dịp hội chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Kiến trúc

Theo phong thủy, chùa Cả được xây dựng trên một thế đất hình rồng. Chùa quay mặt về hướng nam, nhìn ra hồ Long Chiểu, còn gọi là Long Trì (ao Rồng). Phía trước chùa có ngọn Long Đẩu, lưng chùa và mé bên phải là sườn núi Sài Sơn.

Được coi như viên ngọc trong ao rồng, Thuỷ Đình hình vuông, móng bằng đá ong, nền nhà lát gạch Bát Tràng, mái lợp ngói ta. Kiến trúc kiểu chồng diêm tám mái với bốn cột cái, vì kèo kiểu “chồng rường—bẩy hiên”. Có từ thời Mạc, được tu sửa vào thời Nguyễn, Thuỷ Đình xưa kia để trống bốn mặt như một cổng Tam quan tượng trưng. Sau này mới xây ba mặt tường để làm nơi biểu diễn rối nước. Từ Đạo Hạnh cũng được cho là ông tổ của nghệ thuật rối nước.

Cầu Nhật Tiên và đền Tam phủ. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 69 kb
Cầu Nhật Tiên nối đảo với chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Người ta ví Nhật Tiên kiều và Nguyệt Tiên kiều như cặp “râu rồng”. Hai chiếc cầu này có mái che, do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528—1613) tiến cúng năm 1602. Móng cầu xây bằng đá ong với 3 vòm cuốn. Sàn cầu lát gạch Bát Tràng. Kết cấu gỗ kiểu “kèo cầu bốn hàng chân”, khoảng cách giữa hai cột cái 2,7m, bằng chiều rộng của lòng cầu. Cầu Nguyệt Tiên dẫn vào đường lên núi. Cầu Nhật Tiên bắc sang hòn đảo nhỏ phía đông, nơi có đền thờ Tam phủ gồm 3 gian, tường đá ong.

JPEG - 83.6 kb
Dãy tượng La Hán ở hành lang bên hữu chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Các công trình thờ Phật ở ven hồ (tức chùa Cả) bao gồm ba tòa nhà xếp song song được xây trên một gò đất. Theo thứ tự cấp nền nâng cao dần, dân làng lại chia thành ba chùa: Hạ, Trung, Thượng. Giữa chùa Hạ và chùa Trung có ống muống thông nhau thành hình chữ “Công”; chùa Trung thờ Phật, chùa Thượng thờ Từ Đạo Hạnh, cách nhau bởi một giếng trời hẹp để lấy ánh sáng. Cả ba tòa nhà như thế tạo thành kiểu “hạ công, thượng nhất, tiền Phật, hậu Thánh”.

JPEG - 75.7 kb
Dãy tượng Kim Cương chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Lưng của hai hành lang chạy dọc làm thành dãy tường bên hông chùa. Mỗi hành lang dài 30m, rộng 2,8m; chia thành 13 gian bày tượng các vị La Hán. Đầu hồi phía sau của hai hành lang nối liền với gác chuông và lầu trống. Bên ngoài gác chuông, cạnh cửa ngách vào chùa có đề 3 chữ Hán “Thiên Phúc Tự”. Như vậy khu chùa Cả được làm theo kiểu “nội công, ngoại quốc”.

JPEG - 58.2 kb
Tượng Hộ pháp ở chùa Trung. Ảnh ©2014 NCCong

Lưu ý

Chùa Hạ cao hơn sân trước ba bậc, thực chất là toà Bái đường gồm ba gian, hai chái, dài 20m, rộng 5m, cao 5,2m, được đỡ bởi 8 cột cái và 16 cột quân. Hai đầu kìm trên mái gắn đôi lân trong tư thế xô vào nhau, mình đắp mảnh sứ. Trong chùa Hạ có các ban thờ tượng Đức Ông, Thánh Hiền và một bức bình phong mô tả cảnh địa ngục. Dọc ống muống thông lên chùa Trung đặt 8 bức tượng là bản sao nguyên mẫu Bát bộ Kim Cương của chùa Tây Phương.

Chùa Trung ở trên Bái đường ba bậc, gồm ba gian hai chái, dài 20m, rộng 9,5m, cao 5,5m, cũng dùng 8 cột cái và 16 cột quân. Hoành trên rải theo lối “thượng tứ—hạ tứ”, nâng độ cao của mái lên rất nhiều. Bộ mái có niên đại thời Nguyễn, còn bộ khung có từ thế kỷ 17. Lớp trên điện Phật đặt tượng Tam Thế. 5 lớp dưới gồm: Tuyết Sơn, Di Lặc (thế kỷ 17), Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (thế kỷ 18), A Di Đà, Cửu Long (thế kỷ 14).

JPEG - 100.5 kb
Ban thờ Phật ở chùa Trung. Ảnh ©2014 NCCong

Hai bên điện Phật là 2 dãy tượng Thập Điện Diêm Vương quay mặt vào nhau, nay chỉ còn 6 pho. Cùng dãy có thêm tượng Nam Tào, Bắc Đẩu. Lại có tượng Thánh Hiền, Diệu Nhiên, Đại Sỹ, Đức Ông, cặp Hộ pháp, đôi ngựa và Tứ Trấn (4 pho). Đặc biệt có tượng Khuyến Thiện cưỡi sư tử được đắp từ thế kỷ 14. Tượng Hộ pháp đồ sộ, ngồi mà vẫn cao gần 4m, làm vào thế kỷ 17 bằng vật liệu truyền thống rất bền, bao gồm đất sét, giấy bản giã nhỏ trộn mật, trứng,... mặt ngoài vẽ sơn chống ẩm.

JPEG - 92.1 kb
Một khám thờ ở chùa Trung. Ảnh ©2014 NCCong

Chùa Thượng được xem như toà hậu cung cổ nhất nước ta, gồm ba gian hai chái, dài 14,7m, rộng 11,7m, cao 6m, sau lưng có hiên và bậc xuống sân sau để sang nhà tăng. Mặt sau của vì kèo ba gian giữa, kẻ được làm chệch ra phía ngoài cột 0,8m tạo thành bẩy giả, làm mở rộng lối đi từ chùa Trung lên. Khoảng cách giữa cột cái rộng bất thường: 6m, giữa cột cái và cột quân: 2,9m. Trong số 4 cột cái có hai chiếc đã 800 năm tuổi, là di sản từ thời Trần. Một chiếc bằng gỗ chò chỉ và một chiếc bằng gỗ pơ-mu (Ngọc Am), dân gian tin rằng áp tay vào cột mà khấn sẽ được lộc thánh.

Sân sau chùa Cả. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 91.4 kb
Đại hùng Bảo điện ở chùa Thượng. Ảnh ©2014 NCCong

Chùa Thượng chủ yếu thờ các tượng thánh tăng Từ Đạo Hạnh trải qua ba kiếp. Lại có tượng ông Từ Vinh, bà Tăng Thị Loan (cha mẹ của Ngài) và tượng Minh Không, Giác Hải (hai bạn đồng đạo). Gian điện Thánh đề 4 chữ Hán “Đại hùng Bảo điện”. Bộ Di đà Tam tôn được tạc vào đời Mạc, đặt nơi cao nhất. Phật A Di Đà ngồi giữa, Bồ tát Quán Thế Âm ngồi bên phải, chân trái buông xuống, chân phải co lên, tay cầm một cây phất trần. Bồ tát Đại Thế Chí ngồi xếp bằng, hai tay bắt ấn mật phùng.

JPEG - 107 kb
Điện Thánh và gác trống chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Dưới Tam tôn, chính giữa là tượng “Từ Đạo Hạnh vi Phật”, đội mũ và khoác cà sa vàng, toạ đài sen. Tượng được tạc vào thế kỷ 19, khuôn mặt khắc khổ nổi rõ mạch máu. Một con sư tử đá cuộn tròn trên bục bát giác đỡ lấy đài sen làm từ thời Lý. Bộ tượng đặt trên một bệ đá hai tầng hình hộp, được chạm những cánh sen, bốn mặt tạc rồng và hoa lá, bốn góc có hình chim thần Garuda, tạo từ thời Trần.

JPEG - 80.1 kb
Hành lang bên tả chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Bên phải điện Thánh là tượng “Từ Đạo Hạnh vi Vương”. Tương truyền Thầy hóa để đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và sau này trở thành vua Lý Thần Tông. Tượng đội mũ bình thiên, khoác long bào, ngồi trên ngai vàng. Bên trái điện là tượng Thầy ở kiếp Thánh, ngồi trong một khám gỗ chạm trổ cầu kì.

JPEG - 80.9 kb
Lối vào sân sau chùa Cả. Ảnh ©2014 NCCong

Trong chùa còn giữ được 36 pho tượng cổ, niên đại từ thời Lý đến thời Nguyễn. Riêng tượng “Từ Đạo Hạnh vi Thánh” bằng gỗ bạch đàn cốt tre, có thể cử động. Tương truyền xưa kia mỗi khi mở khám thì tượng tự động nhỏm dậy chào. Thời Nguyễn, một vị quan to (Cao Xuân Dục?) đến đây và nói rằng “Thánh thì không phải chào ai cả”, nên hệ khớp điều khiển sử dụng kỹ thuật làm rối nước đã bị tháo bỏ.

JPEG - 120.6 kb
Nhà khách và gác chuông chùa Thầy. Ảnh ©2014 NCCong

Xưa kia chùa Thầy có quả chuông đồng lớn, đúc vào năm Long Phù Nguyên Hoà thứ 9 (1109), nhưng đáng tiếc đã bị mất. Chuông hiện nay treo trong chùa đã được đúc vào năm Giáp Thân 1794. Lại có 7 tấm bia đá, chạm khắc vào các năm 1653, 1666, 1673, 1683, 1672, 1717. Ngoài ra, chùa lưu giữ được 26 đạo sắc phong từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20 và một long ngai thời Trần, được xem như cổ nhất Việt Nam.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh