LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Yên Phú (Khánh Hưng Tự)

Yen Phu Pagoda

Chùa Yên Phú (Khánh Hưng Tự)

Pagode Yen Phu

Thứ Bảy 22, Tháng Ba 2014

Chùa Yên Phú tên chữ Khánh Hưng Tự là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam. Xếp hạng: Di tích lịch sử quốc gia (1988). Chùa nằm ngay ven con đường xuyên Việt, đoạn đi qua đất thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Toạ độ 20°54’9"N 105°51’13"E; cách Hồ Gươm khoảng 18km về hướng nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: Yên Phú, quốc lộ QL1A (tuyến 06 Giáp Bát—Phú Xuyên).

JPEG - 67.6 kb
Chùa Yên Phú nhìn từ QL1A. Ảnh ©2014 NCCong

Truyền thuyết

Theo thông báo của một cuộc Hội thảo sử học được tổ chức mấy năm trước, chùa vốn tên Thanh Vân Cổ Tự và có từ những năm đầu công nguyên, xem như một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam. Thần phả do Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân (1572) cho biết vào thời Hai Bà Trưng (40—43) chùa đã được Sư bà Phương Dung trụ trì[1].

Thần phả kể rằng Sư bà và hai con nuôi là Trung Vũ, Đài Liệu đã theo Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa. Khi mất, ba người được Trưng Vương phong thần hoàng làng Yên Phú. Sau, vua Lê Đại Hành (980—988) phong tặng Sư bà là “Trinh Thục, Chí Đức, Đoan Trang, Cẩn Tiết Hoàng Thái Hậu”, phong hai con là “Hộ Quốc Khang Dân, Phù Vân, Dương Vũ, Uy Dực, Thanh Bảo Canh Hiểu Hựu Trợ Thuận Linh ứng Đại Vương, Bản Cảnh Thành Hoàng”.

Sân chùa Yên Phú. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 77.2 kb
Đình làng Yên Phú. Ảnh ©2014 NCCong

Lược sử

Xưa kia chùa vốn toạ lạc ở cánh đồng Lăng, khi hỏng nặng mới được dân chuyển về khu vườn Miếu. Trên đồng vẫn còn lăng mộ Sư bà Phương Dung, hình tròn xoáy trôn ốc, đường kính 20m, cao 3m. Thanh Vân Cổ Tự sau đổi tên thành Khánh Hưng Tự, dân quen gọi theo tên làng là chùa Yên Phú. Chùa cũng là một di tích lịch sử. Năm 1789 hoàng đế Quang Trung chọn nơi đây để tập kết quân Tây Sơn đánh trận Ngọc Hồi.

JPEG - 71.5 kb
Tam quan nội chùa Yên Phú. Ảnh ©2014 NCCong

Trong thời kỳ 1947—1954, sư trụ trì chùa từng nuôi giấu các chiến sĩ hoạt động kháng chiến chống Pháp. Giai đoạn này, đình Yên Phú bị tàn phá nên các cụ bô lão đã rước bài vị của hai tướng quân về phối thờ tại chùa, cách đình khoảng 700m.

Hội chùa Yên Phú cũng là hội làng, hàng năm diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 11 âm lịch. Trong hội, nhân dân rước kiệu từ đình miếu ra lăng mộ sư Bà Phương Dung, sau đó rước về chùa. Kiệu sư Bà đi trước, phía sau là kiệu hai tướng Trung Vũ, Đài Liệu. Làng dành một mẫu ruộng ở cánh đồng Nhị Châu cho dân lần lượt làm rẽ để có tiền soạn lễ. Lễ vật dâng lên gồm bảy mâm, trong đó có một lễ chay (xôi vò, chè, bánh chay).

JPEG - 100 kb
Tam Bảo chùa Yên Phú. Ảnh ©2014 NCCong

Kiến trúc

Hiện nay chưa tìm thấy ảnh tư liệu về chùa Yên Phú trước kia. Chỉ biết rằng năm 1930 ngôi chùa đã được xây dựng theo hướng tây và mang phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Từ đó cho đến khi bước sang thế kỷ 21 chùa vẫn chỉ có quy mô nhỏ và càng ngày càng lâm vào tình trạng cũ nát. Sư trụ trì tổ chức quyên góp hưng công và ngày 20-11-2011 đã hoàn thành việc xây lại hoàn toàn chùa Yên Phú.

JPEG - 108.3 kb
Tam quan ngoại chùa Yên Phú. Ảnh ©2014 NCCong

Vườn tháp mộ trước sân là di tích duy nhất của ngôi chùa cũ còn sót lại. Ngôi chùa mới bao gồm 3 toà nhà 3 tầng với 1 tầng hầm, dàn ngang theo hình chữ “Nhất” trong khuôn viên hơn 4100m2. Mặt bằng xây dựng rộng 1800m2 trong đó khu nội tự rộng 1260m2. Hai cổng tam quan nội, ngoại ở mặt tây và mặt nam đều có ba mái cao thấp khác nhau, xây bằng bê-tông, bên trên đề chữ bằng quốc ngữ như kiểu chùa Quán Sứ.

JPEG - 77 kb
Tiền đường chùa Yên Phú. Ảnh ©2014 NCCong

Lưu ý

Toà Tam bảo nằm ngay sau tam quan nội, bên trong trông như một Phật điện hiện đại. Hệ thống tượng tròn trong chùa được bài trí hơi khác các ngôi chùa truyền thống ở Bắc Bộ. Lớp sau trong hậu cung có pho tượng Quan Âm tống tử, bên phải là tượng Đức Thánh Mẫu. Đáng chú ý thêm là chùa mới có một pho tượng Di Lặc đặt chính giữa hàng hiên của tiền đường, giống như ở chùa Võng Thị.

Trong chùa Yên Phú vẫn còn giữ được nhiều văn bia, hoành phi, câu đối chữ Hán mang phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Bức Đại tự đề tên chùa “Khánh Hưng Tự” và ghi năm “Thành Thái Nhâm Ngọ niên” (1902). Trước toà Tam bảo có 3 bức hoành phi cũng ghi rõ niên hiệu: 1) “Tương quan nhi thiện” —Khải Định mùa thu Ất Sửu (1925), 2) “Từ Quang Phổ Chiếu” —Khải Định năm thứ nhất (1916), 3) “Vạn đức từ tôn” —Bảo Đại năm thứ nhất (1926). Hai bên Tam bảo có đôi câu đối: “Kim liên thuý yết thiên hoa pháp / Tuệ nhật quang lâm vạn cảnh tân” —niên hiệu Bảo Đại năm Mậu Thìn (1928).

JPEG - 138.5 kb
Một khóa tu tại chùa Yên Phú. Ảnh Cẩm Vân 6-2014

Với diện tích lớn và các phương tiện hiện đại, chùa Yên Phú đã bắt đầu mở các khóa tu hàng năm cho các Phật tử trẻ tuổi. Hiện nay sư trụ trì chùa là Thượng toạ Thích Thọ Lạc.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] Theo truyền tụng, vào cuối thời Hùng Vương thứ 18, ở làng Lưu Hàm, huyện Thượng Hiện, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam có vợ chồng ông Trương Công và bà Phùng Thị Huệ sinh con gái. Lớn lên nàng Phương Dung xinh đẹp xin cha mẹ cho quy y. Sau đến thăm Thường Tín, thấy làng Yên Phú cảnh đẹp phong quang, bèn ở lại tu hành và đặt tên chùa là Thanh Vân Cổ Tự.

Một hôm Sư bà ra sông Kim Ngưu tắm, bỗng có mây hồng sà xuống cuốn lấy. Đêm đó, mơ thấy một tướng quân dáng kỳ dị từ dưới nước lên, tự xưng là Thuỷ thần và nói: “Nhà ngươi đức dày, Trời đã soi tỏ, lệnh cho hai Thuỷ thần đầu thai, chớ có lo lắng về điều đó”. Nói xong cưỡi thuyền rồng bay đi.

Sớm mai, Sư bà qua miếu thấy có hai quả trứng lớn, bèn mang về chùa. Bỗng từ trứng phát ra tiếng vang như sấm, tách vỏ, xuất hiện hai vị thần đầu người, mình rắn, tướng mạo kỳ lạ, thiên tư to lớn. Các bô lão kéo đến, hai vị thần nói: “Anh em ta vốn là Thuỷ thần mà các ông thờ phụng lâu nay, tên Trung Vũ và Đài Liệu, phụng mệnh giáng sinh giúp dân, cứu nước”.

Sư bà nuôi hai con ăn học, giỏi cả văn võ. Năm hạn hán, hai người lập đền cầu vũ, ngay sau đó mưa to, ruộng đồng đầy nước. Rồi Sư bà và hai con tập hợp mấy ngàn người lên đường theo Hai Bà Trưng, góp phần đánh tan quân Tô Định. Trưng Vương cho về hưởng ấp Thanh Trì. Ba mẹ con bái tạ vua và lên thuyền trở về, đến giữa sông Kim Ngưu, một đám mây vàng sà xuống, mưa to gió lớn, nước dâng cao. Sư bà mình mặc áo gấm, ngồi trên kiệu hoa, cưỡi mây bay lên. Hai con lao xuống sông biến mất.


Đông Tỉnh