LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Tham quan > Di tích thành Thăng Long—Hà Nội

Ancient Royal Palace & Ha Noi Citadel

Di tích thành Thăng Long—Hà Nội

Ancien Cité de Ha Noi

Thứ Ba 18, Tháng Mười 2011

Ngày 1-8-2010, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Xếp hạng: Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật quốc gia (năm 2007). Toạ độ: 21°2’15"N 105°50’17"E, cách Hồ Gươm chừng 2km về hướng tây-bắc. Cửa vào Di tích khảo cổ học: số 18 Hoàng Diệu, vào Di tích thành Hà Nội: 19c Hoàng Diệu, vào Bắc Môn: 51 Phan Đình Phùng. Điểm dừng xe bus gần nhất: phố Hoàng Diệu (bus 22, 33, 45, 50).

JPEG - 42.3 kb
Khai quật khảo cổ Hoàng thành Thăng Long. Nguồn: QĐND

Giới thiệu

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long có tổng diện tích gần 2 ha, giới hạn bởi các phố: Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn (trừ khu Nhà Quốc hội), Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương. Ngày 1-8-2010, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long tại Hà Nội đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Khu này hiện nay bao gồm bộ phận di tích khảo cổ học phát lộ trong lòng đất cạnh toà nhà Quốc hội và bộ phận di tích trên mặt đất trong thành cũ. Đây là nơi minh chứng lịch sử 13 thế kỷ của các chính quyền Việt Nam, trong đó có 1000 năm phát triển văn hóa độc lập ở Thăng Long—Hà Nội. Đáng tiếc hầu hết di tích thời Thăng Long—Đông Đô không còn nữa vì những cuộc đổi ngôi thời Lê, Mạc, Tây Sơn và sự phá huỷ Cấm thành vào đầu thời Nguyễn.

Tên "Hà Nội" xuất hiện năm 1831, khi Minh Mạng lập các tỉnh trên cả nước. Từ đó Hà thành là hành cung của các vị vua mỗi khi có việc từ Huế ra Bắc.

Trước cửa Đoan Môn. Panorama ©2010 Thang Bui

Đoan Môn

Đoan Môn là cổng thành phía Nam của Cấm thành, là nơi qua lại của Hoàng gia, và các quan binh thân cận nhà vua... Trục địa lý gần trùng với đường “thần đạo” nối giữa công trình này với điện Kính Thiên và Kỳ Đài, là đường thẳng chia Hoàng thành làm hai mảng kiến trúc cân đối theo lối xây dựng điển hình thời phong kiến.

Đoan Môn được sửa lại thời Nguyễn gồm có ba tầng. Tầng dưới gồm năm cửa, trong đó có một cửa chính, hai cửa phụ, hai cửa ngách. Cửa chính giữa dành cho vua, các cửa bên dành cho các quan. Phía trên cổng chính gắn một bảng đá ghi hai chữ Hán “Đoan Môn”. Các cửa đều được xây cuốn vòm. Ngoài cùng là cầu thang rộng xây lộ thiên dẫn lên lầu hai.

Trên lầu Đoan Môn. Panorama ©2010 Thang Bui

JPEG - 76.8 kb
Đoan Môn. Ảnh ©2013 NCCong

Tầng lầu thứ hai có khuôn viên rất rộng hai bên, được trang trí bằng những ô đất trồng cỏ và những cây hoa đại lâu năm... Hệ thống cửa trong tầng lầu thứ hai được thiết kế theo hình lục giác, khác biệt hoàn toàn với lối cửa cuốn tò vò phía trước và hai bên cánh gà. Phía trên cửa chính giữa tầng lầu thứ hai được đắp nổi ba chữ Hán “Ngũ Môn Lâu” (Lầu năm cửa).

Tầng lầu thứ ba trổ cửa vòm ba hướng, mái lợp hai tầng tám mái, bốn góc mái tầng hai được trang trí rồng cuốn. Trong lầu có đặt một ban thờ nhỏ trước cửa tò vò.

Từ Đoan Môn có con đường dài lát gạch đi thẳng đến thềm điện Kính Thiên.

Di tích Điện Kính Thiên. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 61.3 kb
Rồng đá điện Kính Thiên. Ảnh ©2012 NCCong

Điện Kính Thiên

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, điện được xây dựng năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ và hoàn thiện vào đời vua Lê Thánh Tông. Vị trí điện ở núi Nùng, ngay trên nền cũ của cung Càn Nguyên – Thiên An thời Lý, Trần.

Sau khi bị Pháp phá huỷ vào cuối thế kỷ 19, điện Kính Thiên chỉ còn lại nền và hai thềm bậc đá ở hai phía. Thềm trước điện có đôi rồng đá dài 5.3m uốn mình mềm mại, thềm sau điện có một đôi rồng đá khác dài 3.4m, hai bờ thềm tạc mây lửa và hoa lá cách điệu kiếu Hậu Lê (năm 1467).

Thời Pháp thuộc, Hà Nội là thủ phủ của Đông Dương và thành Hà Nội là khu vực quân sự. Người Pháp đã phá điện Kính Thiên làm Sở chỉ huy pháo binh và xây dựng một số toà nhà xung quanh. Từ năm 1954 khu vực này là Tổng hành dinh Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 2004 bàn giao lại cho UBND Hà Nội một số phần trong Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Cột Cờ (Kỳ Đài) Hà Nội. Panorama ©2010 ©Thang Bui

JPEG - 98.2 kb
Kỳ Đài. Ảnh ©2013 NCCong

Kỳ Đài

Kỳ Đài (Cột Cờ) được vua Gia Long cho xây năm 1812, hiện nằm trong khuôn viên Viện Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Ca dao có câu:
“Kỳ đài năm thước vút trời cao
Thông đạt trong tâm có đường vào
Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!”

Kỳ Đài cao hơn 40m, hình tám cạnh, đứng trên ba cấp hình vuông. Cấp dưới cùng rộng 42x42m, cấp trên cùng rộng 13x13m. Cấp giữa mở 4 cửa, chỉ 3 cửa có tên là Nghênh Húc (đón ánh nắng mai) ở phía đông, cửa Hướng Minh (hướng về ánh sáng) ở phía Nam và cửa Hồi Quang (ánh sáng phản chiếu) phía tây. Cầu thang xoáy ốc, có 51 bậc. Đỉnh cột cờ hình khối bát giác có trụ để cắm cờ. Được trùng tu hai lần vào tháng 12-1959 và tháng 11-1989.

Di tích Bắc Môn. Panorama ©2010 Thang Bui

JPEG - 48.7 kb
Bắc Môn. Ảnh ©2012 NCCong

Bắc Môn

Đoạn giữa phố Phan Đình Phùng là Bắc Môn, cổng duy nhất trong 5 cổng ngoài của thành Hà Nội còn sót lại với 2 vết đạn pháo do quân Pháp bắn ngày 25-4-1882 khi chúng đánh Hà Nội lần thứ hai.

Bắc Môn do nhà Nguyễn xây năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê theo lối vọng lâu: phần lầu ở trên, phần thành ở dưới. Trước cổng là chiếc cầu gạch bắc qua con hào rộng bao quanh thành, sau bị Pháp lấp. Phần lầu được dựng theo lối chồng diêm tám mái, lợp ngói ta, trổ cửa ra bốn hướng. Đứng trên lầu có thể quan sát khắp trong ngoài thành, do đó quân đội Pháp từng sử dụng làm chòi canh gác.

Bắc Môn cao 8,71 m, rộng 17,08 m, tường dày 2,48 m. Phía ngoài bên trên cổng thành còn ba chữ Hán “Chính Bắc Môn” khắc trên đá, diềm biển trang trí hoa dây. Hiện nay, lầu trên cổng thành mới được phục dựng một phần và dành làm nơi thờ hai vị Tổng đốc thành Hà Nội đã tuẫn tiết là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.

Phía sau Đoan Môn. Panorama ©2010 Thang Bui

JPEG - 60.7 kb
Hậu Lâu. Ảnh ©2012 NCCong

Hậu Lâu

Hậu Lâu tức Tĩnh Bắc Lâu được xây từ đời Hậu Lê, là nơi ở và sinh hoạt của các hoàng hậu, công chúa. Toà lầu sửa lại vào thế kỷ 19 gồm có ba tầng, được dựng trên một dải đất cao, xung quanh có nhiều cây xanh, hoa đẹp. Hai lối vào được thiết kế đối xứng tả hữu theo trục Bắc – Nam. Phòng và hành lang không có tường vách, có lẽ xưa kia chỉ được ngăn cách bằng rèm lụa. Hành lang dài phía sau nối hai bên tả hữu, ở giữa là lối vào phòng kín nhất.

Tầng một và tầng hai Hậu Lâu đều có ba phòng. Cầu thang dẫn lên tầng hai khá hẹp. Phòng giữa có bốn mái hiên cách điệu. Hai phòng bên được xây theo lối hai tầng tám mái. Cầu thang dẫn lên tầng ba thậm chí chỉ vừa đủ cho một người đi. Tầng ba chỉ có một phòng, được thiết kế theo lối hai tầng tám mái. Các mái được lợp ngói ống, vuốt cong các góc bằng hình tượng đầu phượng duyên dáng.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến


Đông Tỉnh