Xem lẹ

Trang nhà > Đền > Gò Đống Đa và Trung Liệt Miếu

Dong Da Hill and Temple of Faithfuls

Gò Đống Đa và Trung Liệt Miếu

Colline Dong Da et Temple des Fidèles

Thứ Hai 23, Tháng Hai 2015

Gò Đống Đa là nơi ghi dấu trận đại thắng giặc Thanh vào Tết Kỷ Dậu năm 1789 của dân tộc ta. Xếp hạng: Di tích lịch sử quốc gia (năm 1963). Địa chỉ: số 2 phố Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tọa độ: 21°00’43"N 105°49’28"E; cách Hồ Gươm chừng 5km về hướng tây-nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: đoạn giữa phố Tây Sơn (bus 01, 02, 09, 23, 30), hoặc đoạn đầu phố Thái Hà (12, 26, 30, 35).

JPEG - 171.7 kb
Gò Đống Đa mùng 5 Tết Ất Mùi. Ảnh ©2015 NCCong

Lược sử

Gò Đống Đa được giữ lại gần như nguyên vẹn trong quá trình đô thị hóa Hà Nội và trở nên một trong những địa danh nổi tiếng nhất Việt Nam. Tên gò từ cuối thế kỷ 20 cũng đã trở thành tên của quận Đống Đa, một quận lớn và đông dân bậc nhất thủ đô. Tết Kỷ Dậu năm 1789 các cánh đồng và gò đống xung quanh đây từng chứng kiến trận đánh đẫm máu cuối cùng trong chiến dịch giải phóng Thăng Long của hoàng đế Quang Trung.

JPEG - 153.1 kb
Bia kỷ niệm trên nền Trung Liệt Miếu. Ảnh ©2015 NCCong

Năm ấy, Thái thú Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự vẫn và chủ soái Tôn Sĩ Nghị của quân xâm lược nhà Thanh phải bỏ lại tất cả để chạy thoát thân về Trung Quốc. Tương truyền (không chính xác) rằng sau chiến thắng, xác giặc được xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đắp cao thành gò, gọi là "Kình nghê quán" (mồ chôn kình nghê —hai loài cá dữ ngoài biển, chỉ giặc xâm lăng). 12 gò mộ này nằm rải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, gần chùa Bộc.

JPEG - 155.5 kb
Chùa Đồng Quang đối diện gò Đống Đa qua phố Tây Sơn. Ảnh ©2015 NCCong

Nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã làm bài thơ “Loa Sơn điếu cổ” trong có câu:
Nam Thành thập nhị kình nghê quán
Chiếu diệu anh hùng đại võ công

JPEG - 156.9 kb
Giỗ trận Đống Đa năm Ất Mùi. Ảnh ©2015 NCCong

Được dịch là:
Thành Nam xác giặc mười hai đống
Rạng rỡ anh hùng đại võ công

Năm 1851, Tổng đốc Hà Nội cho mở đường mở chợ, đào đất thấy nhiều hài cốt, lại thu vào một hố rồi đắp cao lên thành gò mộ thứ 13. Chính quyền kêu gọi các nhà hảo tâm dựng thêm 4 gian nhà nằm đối diện miếu Trung Liệt để làm chùa cúng cô hồn, ghép hai tên trại Nam Đồng và Thịnh Quang mà đặt tên chùa là Đồng Quang. Cả 13 gò mộ sau đã bị san phẳng trong thời gian người Pháp mở rộng Hà Nội cuối thế kỷ 19.

Giỗ trận Đống Đa năm Ất Mùi. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 166.1 kb
Tam quan Trung Liệt Miếu. Ảnh ©2015 NCCong

Trung Liệt Miếu

Miếu Trung Liệt được xây dựng năm Chính Hòa thứ 6 đời vua Lê Hy Tông (1685) tại thôn Trung Phường, xã Yên Hòa, huyện Thọ Xương (chỗ phố Nguyễn Khuyến bây giờ) để thờ các trung thần tiết liệt của nhà Lê. Thoạt đầu miếu thờ Lê Lai, người đã hy sinh cứu Bình Định Vương Lê Lợi. Hàng năm cứ đến ngày rằm tháng Giêng, vua lại ngự giá cùng bá quan văn võ đến miếu này để tham bái tưởng niệm. Đến cuối thế kỷ 19, miếu được dời đến gò Đống Đa và thờ thêm các vị quan võ triều Nguyễn chết vì nước.[1]

JPEG - 53.2 kb
Gò Đống Đa. Ảnh: Võ An Ninh 1942

Hiện vẫn còn đôi câu đối bằng sứ đắp bên cổng Trung Liệt Miếu do Tam nguyên Vũ Phạm Hàm (1864—1906) viết về 2 vị tổng đốc Hà Thành hy sinh cách nhau 10 năm như sau:
此城郭此江山百戰風塵餘赤地
為日星為河岳十年心事共青天
(Thử thành quách thử giang san bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh vi hà nhạc thập niên tâm sự cộng thanh thiên)
Đông Tỉnh dịch là:
Nọ thành quách, nọ nước non, trăm trận bụi bay còn đất đỏ,
Là sao ngày, là sông núi, mười năm lòng dạ với trời xanh.

JPEG - 155 kb
Cổng vào gò từ phố Tây Sơn (mới xây). Ảnh ©2015 NCCong

Thời Pháp thuộc, một số quan viên và người giàu ở Hà Nội muốn mở rộng danh sách thờ vọng trong Trung Liệt Miếu, nhưng vì có cả nhân vật không được dân Bắc Kỳ quý trọng nên dư luận không đồng thuận. Đến mùa Xuân năm Bính Tuất 1946, trong khí thế cách mạng và tinh thần dân tộc dâng cao trước lũ quân Tàu Tưởng và Anh-Pháp, lần đầu tiên Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đã hô hào dân chúng đến gò Đống Đa tham gia lễ kỷ niệm 157 năm Đại thắng Kỷ Dậu. Sau đó, người anh hùng Quang Trung mới được đưa vào thờ ở Trung Liệt Miếu.

JPEG - 56.3 kb
Lễ kỷ niệm Chiến thắng Đống Đa năm 1946

Nhưng sau đó trong chiến tranh Trung Liệt Miếu đã bị phá hủy, chỉ còn lại tam quan. Không rõ hình thù thế nào nhưng chắc chắn tòa miếu này từng là một thắng cảnh Hà Thành. Dù rằng hồ nước trước cổng đã bị lấp và lấn chiếm một phần, nay ta vẫn còn thấy đôi câu đối đắp gần nóc tam quan được viết tự hào như sau:
Nhất thủy niêm thiên dư thắng địa
Bán sơn ủng miếu độc cao đài

Đông Tỉnh dịch là:
Mặt nước dính trời nâng đất đẹp
Núi đồi ôm miếu giữ đài cao

Tưởng niệm

Trước Cách mạng Tháng Tám, các vua nhà Nguyễn vì tư thù mà cấm ngặt mọi việc thờ phụng liên quan đến triều Tây Sơn và Hoàng đế Quang Trung. “Giỗ trận Đống Đa” trong suốt 156 năm về hình thức chỉ là giỗ vong hồn quân Thanh chết ở đây. Nhưng nhiều người vẫn lặng lẽ đến chùa Kim Sơn để tưởng nhớ các nghĩa sĩ Tây Sơn. Từ 1955, cứ đúng ngày mồng 5 Tết, dân thủ đô lại tổ chức rầm rộ lễ hội kỷ niệm chiến thắng, trong đó có diễn trò đánh xuyên trại quân Thanh đóng tại Khương Thượng.

JPEG - 144 kb
Nghi môn mới xây ở CV Đống Đa. Ảnh ©2015 NCCong

Nhân kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi—Đống Đa (1789-1989), UBND TP Hà Nội đã cho xây dựng Công viên Văn hóa Đống Đa trên diện tích 21.745 m2, bao gồm khu vực tượng đài Quang Trung, nhà trưng bày và gò Đống Đa. Năm 2014 lại xây thêm cái cổng cứ như cổng thành ở phía trước Trung Liệt Miếu và tiếp tục tôn tạo khu vực xung quanh tượng đài, tuy nhiên nhà bái đường của miếu vẫn chưa được khôi phục.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] Các liệt sĩ triều Nguyễn được phối thờ bao gồm:

  • Nguyên soái Nguyễn Tri Phương cùng người con trai là tướng Nguyễn Lâm đã bỏ mình trong trận giặc Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất vào tháng 11 năm 1873.
  • Hoàng Diệu, Thượng thư Bộ Binh, Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Ninh Bình), đã thắt cổ tự tử tại Võ Miếu vào năm 1882 khi quân Pháp lần thứ hai tràn vào thành Hà Nội,
  • Trương Quốc Dụng, Thượng thư Bộ Hình từng làm Hải Yên Thống đốc quân vụ, sau bị chết năm 1864 khi đi dẹp khởi nghĩa nông dân ở Quảng Yên.
  • Đoàn Thọ, Thự Đô Thống Chưởng phủ Quân lĩnh thị vệ, từng lập nhiều chiến công ở Cao Bằng. Khi làm Thống đốc Bắc Kỳ quân vụ trấn giữ Lạng Sơn, ông đã bỏ mình trong một trận đánh.
  • Nguyễn Cao, người Bắc Ninh từng làm Bố chánh Thái Nguyên. Khi Pháp đánh Bắc Kỳ, ông đã tụ tập nghĩa quân kháng cự quyết liệt. Sau khi triều đình ký hiệp ước với Pháp, ông cho giải tán nghĩa binh còn mình lui về dạy học ở Kim Giang, Ứng Hòa nhưng vẫn bí mật liên hệ với phe kháng chiến để chống đánh Pháp. Năm 1887, Pháp dò la bắt được Nguyễn Cao. Khi bị bắt, trước mặt quân thù ông đã dùng tay tự chọc thủng bụng rồi móc hết ruột ra để tỏ lòng trung kiên bất khuất. Quân Pháp vội đưa ông đi cứu chữa với ý đồ mua chuộc nhưng ông đã nhịn ăn nhịn uống và cắn lưỡi tự vẫn.

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong