LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Tham quan > Làng quê > Làng Miêu Nha

Mieu Nha Village

Làng Miêu Nha Làng Miêu Nha

Village Mieu Nha

Thứ Sáu 2, Tháng Sáu 2017

Đình, miếu Miêu Nha thờ Lý Nam Đế và 4 thiên thần, tương truyền được xây từ thế kỷ 6. Xếp hạng: Di tích lịch sử và kiến trúc, nghệ thuật quốc gia (năm 1989). Địa chỉ: phố Do Nha, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 21°00’59"N 105°44’14"E; cách Hồ Gươm hơn 15km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: cạnh đường sắt cắt ngang tỉnh lộ TL70A (tuyến 57: BĐX Nam Thăng Long - KCN Phú Nghĩa).

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận

Lược sử

Thôn Miêu Nha tên Nôm là làng Ngà, nằm ven đường tỉnh lộ TL70A, đoạn giữa Ngã tư Canh và đại lộ Thăng Long. Đây vốn là một vùng đất cao ven sông Nhuệ, từ trước thế kỷ thứ 6 đã trở thành ấp trại của những người họ Trần từ Thanh Hóa ra lập cư dưới thời Bắc thuộc. Sau đó có thêm họ Lưu ở Thanh Hóa, họ Đỗ ở Tiên Lữ (Hưng Yên) và các họ khác chuyển đến.

Thời xưa, làng Ngà vốn tên là Do Nha, đến đầu triều vua Gia Long (1812 - 1819) mới đổi thành Miêu Nha. Khi đó làng có đến 618 mẫu ruộng, trong khi số dân chỉ chừng trên 1000 người. Nằm trong vùng trồng dâu Canh - Mỗ ven sông Nhuệ, làng Miêu Nha có nghề dệt với sản phẩm là lụa Ngà nổi tiếng. Trước đây đã từng có chợ để trao đổi hàng hóa, nhưng chợ này đã mất từ đầu thế kỷ 20 do bị hàng nhập khẩu ép giá.

Làng Ngà từ 1945 trở về trước luôn là một xã thuộc tổng Phương Canh, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức. Trong kháng chiến chống Pháp, làng nhập với các làng Canh thành xã Thọ Nam, thuộc huyện Liên Bắc. Sau này Thọ Nam lại đổi là xã Vân Canh, gồm các làng Kim Hoàng, Hậu Ái, An Trai, thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ năm 1961 làng được chuyển về Hà Nội, thuộc xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, từ cuối năm 2013 xã đổi thành phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Di tích

Đình làng tương truyền được xây từ thế kỷ 6, bên trong thờ Lý Nam Đế (tức Lý Bí, 503–548) và 4 vị thần: Thủy Hải Long Vương, Nhật Long Vương, Nguyệt Long Vương, Thiên Chúa Bình Vương. Theo lưu truyền trong vùng thì khi trận tuyến chống quân nhà Lương ở cửa sông Tô Lịch bị vỡ, Lý Nam Đế phải lui về làng Do Nha. Ba năm sau vua mất, dân làng tôn làm thành hoàng và tuân theo tục lệ kiêng tên húy của Ngài, như gọi “quả bí” là “quả bầu” và “lược bí” thành “lược mau”. Hội làng hàng năm diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch.

Ngôi đình này đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo; đến nay bên trong vẫn còn một số mảng chạm khắc mang dấu án phong cách nghệ thuật của thế kỷ 17-18. Đình quay hướng tây-bắc nhìn ra một ao sen hình vuông. Mặt bằng xây dựng hình “chữ Công”, sau cổng tam quan là hai nhà giải vũ và tòa tiền tế 3 gian 2 chái rồi đại đình 5 gian 2 chái. Miếu xây hồi đầu TK20, tiền tế và hậu cung đều có 3 gian. Ngày 21-01-1989 đình và miếu đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử và kiến trúc, nghệ thuật quốc gia.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng năm 1518, nhân khi Trần Chân làm phản, Mạc Đăng Dung rước vua Lê Chiêu Tông chạy ra Bảo Châu (phường Tứ Liên, quận Tây Hồ hiện nay) và dần dần thoán quyền. Nhiều vị quan can ngăn đã bị Mạc Đăng Dung giết hại. Trịnh Tuy và một số vị bèn lập một người tôn thất khác là Lê Do lên làm vua, lấy niên hiệu “Thiên Hiến” (văn hiến nghìn năm), tụ tập quân tướng chống lại Mạc Đăng Dung.

Theo lưu truyền dân gian thì những ngày đầu Lê Do đã đóng ở chùa Bà, làng Do Nha. Vết tích của hành điện này còn được lưu qua các địa danh: cánh đồng Voi, giếng tắm Ngựa… Đến mùa thu Kỷ Mão 1519, Mạc Đăng Dung rước Lê Chiêu Tông trở về kinh đô, rồi cho quân thủy, bộ vây Do Nha. Nhân mưa to, Đăng Dung cho khơi nước vào trại của Lê Do và bắt được, đem giết đi.

Chùa làng tương truyền có từ trước thời Lê. Đầu thế kỷ 16, một bà vương phi về cầu tự tại đây rồi sinh ra một con trai được lập làm vua. Sau, bà đã đứng ra hưng công xây dựng lại, nên mới có tên gọi chùa Bà. Khi triều đình Lê Do đóng hành dinh tại đây, chùa được đổi tên là Thiên Khánh. Trong chùa có nhiều bia mang niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) ghi lại việc tu bổ chùa. Tại điện thờ ở nhà hậu của chùa còn có tượng 4 vị công chúa là Thiên tiên (Thanh Vân), Địa tiên (Liễu Hạnh), Thủy tiên (Mẫu Thoải) và Thượng Ngàn cùng 4 đạo sắc ban cho các vị.

Panorama

Trước đình Miêu Nha. Panorama (c) NCCong 2017


Bài và ảnh: Đông Tỉnh