LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Tham quan > Làng quê > Làng Ngọc Trục

Ngoc Truc Village

Làng Ngọc Trục

Village Ngoc Truc

Thứ Hai 26, Tháng Mười 2015

Làng Ngọc Trục nay thuộc phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Toạ độ: 20°59’23"N 105°46’23"E; cách Hồ Gươm khoảng 12km về hướng tây-nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: phố Đại Mỗ (bus 57).

Lược sử

Làng Ngọc Trục nay ở góc phía bắc ngã tư đường Tố Hữu—Đại Mỗ. Nhân dân chuyên về trồng đào Tết và làm ruộng. Trước kia họ có nghề nông kết hợp với đan bồ, đan cót, vì thế tên làng còn được gọi là Dộc Bồ. Theo sổ Địa bạ đời vua Gia Long thì diện tích đất canh tác năm 1805 đo được 320 mẫu điền.

Ao đình làng Ngọc Trục. Panorama ©2015 NCCong

Nơi đây lúc đầu vốn là một khối thống nhất, về sau chia thành hai thôn độc lập, gồm Dộc Cả (tên chữ là Thượng Thư, đầu thời Nguyễn đổi thành Thượng Văn) và Dộc Bé (tên chữ Trung Văn). Năm 1928, cả hai làng Dộc có 1675 dân, trai đinh chia thành bốn giáp, cùng nằm trong xã Ngọc Trục. Trong làng xưa kia có họ Bạch chiếm số đông.

Làng Ngọc Trục nằm trên một triền đất khá cao ven sông Nhuệ, thuộc xã Đại Mỗ. Các bô lão sở tại cho rằng thế phong thủy này rất ưu đãi các cô gái bên ngoài về làm dâu, trong khi trai từ các nơi khác đến ở rể lại không được thuận lợi, vì thế có câu “Làng Ngọc Trục, đất sống trâu, thường đãi dâu, không đãi rể”.

Đình, chùa và thôn nữ Dộc Bồ được "ưu đãi" ?

Posted by Cong Chi Nguyen on 26 Tháng 10 2015

Sau Cách mạng tháng 8-1945, làng Thượng Văn đổi tên thành Ngọc Trục; tiếp theo lại nhập với làng Đại Mỗ và Giao Quang thành xã Đại Mỗ. Tới tháng 12-1948, xã này nhập với xã Tây Mỗ (gồm các làng Tây Mỗ, Phú Thứ) thành xã Hữu Hưng, thuộc huyện Liên Bắc, tỉnh Hà Đông.

Đến cuối năm 1954, xã Hữu Hưng được cắt về huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, rồi từ tháng 5-1961 thuộc vào huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Tháng 12-1964, xã Hữu Hưng lại chia thành hai xã Đại Mỗ và Tây Mỗ. Làng Ngọc Trục thuộc về xã Đại Mỗ. Bước sang thế kỷ 21, xã này bị đô thị hóa dần dần, năm 2014 trở thành phường Đại Mỗ, thuộc quận Nam Từ Liêm.

Lưu ý

Làng Dộc Cả vẫn còn giữ được khá nhiều các di tích kiến trúc và tâm linh. Đầu tiên phải kể tới ngôi đình gần cổng phía bắc làng với tam quan xây kiểu trụ biểu ở ngay sau bức bình phong đắp cuốn thư trên tường bao của một ao vuông nhỏ. Tòa đại bái quay hướng đông-bắc, gồm 3 gian 2 dĩ kết nối với hậu cung 4 gian thành hình chữ “Đinh”. Trước đại bái còn có tòa phương đình 2 tầng 8 mái 4 cột với sân nhỏ và 2 nhà giải vũ. Trong đình còn giữ được đạo sắc năm Cảnh Trị thứ 8 (1670) phong thành hoàng là Ả Lã Nàng Đê (nữ tướng thời Hai Bà Trưng) và 3 người con của bà. Các hiện vật và mảng chạm khắc có niên đại từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20.

Mảnh đất rộng gần cổng phía nam làng, nay nằm cạnh chợ, là nơi lưu dấu tích Văn chỉ, với 4 tấm bia cổ khắc vào những năm đầu niên hiệu Vĩnh Trị (1676-1677) ghi sự kiện hai ông Nguyễn Nhân Lân, Nguyễn Văn Lương hiến ruộng, tiền cho làng xây dựng Văn chỉ và tế lễ tại đây.

Sân chùa Đại Phúc. Panorama ©2015 NCCong

Cạnh Văn chỉ là ngôi chùa Đại Phúc, ngày 31-01-1992 đã được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia cùng với đình làng. Cổng chùa quay hướng tây-nam, xây theo kiểu ngũ môn, gác trên treo một quả chuông lớn đúc năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794) thời Tây Sơn. Sau tam quan là 2 nhà giải vũ hai bên sân và một phương đình ở giữa, chỉ 4 mái nhưng 16 cột. Tiền đường 5 gian kết nối với hậu cung 2 gian theo kiểu chuôi vồ. Phía lưng hậu cung còn có sân hậu với nhà Mẫu, nhà Tổ và nhà Ni bao quanh. Từ khu này có lối rộng đi ra cổng phụ bên tả của tam quan, không qua phương đình.

Gần đoạn đầu con đường đi Đại Mỗ có hai di tích ẩn dưới bóng các cổ thụ. Trước hết là ngôi đền thờ thần núi Tản Viên và hai anh em kết nghĩa Cảm Hóa đại vương, Minh Trạc đại vương. Cạnh đó có một đền khác thờ Ả Lã Nàng Đê. Cách hai ngôi đền này khoảng 200m về phía đông còn có đền thờ một vị tướng thời Lê-Trịnh là Đào Thế Tiên vốn người làng, làm quan đến chức Đô đốc Thiêm sự, tước Quảng Quận công, lập được nhiều công lao trong các cuộc chiến với quân chúa Nguyễn và tử trận tại Thiên Lộc (nay thuộc Hà Tĩnh) tháng Một năm Canh Tý niên hiệu Vĩnh Thọ (1660), được truy tặng hàm quan là Dực vận tán trị công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Bắc quân Đô đốc phủ, Đô đốc đồng tri, Thiếu bảo, cho dân xã Ngọc Trục lập đền thờ. [1]

Sân chùa mùa gặt -> Lũ trẻ con khu tập thể ĐHSP HN

Posted by Cong Chi Nguyen on 25 Tháng 10 2015

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] Tham khảo: Làng Ngọc Trục, TS Bùi Xuân Đính, báo điện tử Hà Nội Mới


Đông Tỉnh