LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Làng xã > Làng khoa bảng Nguyệt Áng

Nguyet Ang - Village of Confucianist Doctors

Làng khoa bảng Nguyệt Áng

Nguyet Ang - village des docteurs lettrés

Chủ Nhật 4, Tháng Hai 2018

Đình Nguyệt Áng có muộn nhất từ đầu thế kỷ 17, thờ thành hoàng Công Ba đại vương, em của vua Hùng thứ nhất. Văn chỉ lập năm 1667, có bia ghi tên 11 người làng đỗ đại khoa. Chùa Thanh Bảo xây lại năm 1932. Xếp hạng: cụm Di tích lịch sử văn hóa. Địa chỉ: thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội. Tọa độ: 20°54’32"N 105°49’15"E, cách Hồ Gươm chừng 17km về hướng nam. Điểm dừng xe bus gần nhất: UBND xã Đại Áng (bus 12).

Lược sử

Thôn Nguyệt Áng có tên Nôm là làng Nguyệt, nằm gần khúc sông Nhuệ thông với sông Tô Lịch bao quanh xã Đại Áng, huyện Thanh Trì. Đình làng thờ thành hoàng Công Ba đại vương, theo thần phả là em thứ ba của vua Hùng đầu tiên và người có công lớn giúp dân mở mang đồng ruộng. Lễ hội hàng năm được tổ chức vào 2 dịp chính: 12 tháng 2 (ngày hoá của thần) và 15 tháng 5 là ngày kỳ phúc. Theo lệ thì trong dịp hội tháng 2 có lễ rước bánh dày[1].

Năm 1993, tại đầu đình làng Nguyệt Áng đã phát hiện được một ngôi mộ thuyền với đồ tuỳ táng bên trong là bộ vũ khí bằng đồng có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 5 TCN. Các nhà khảo cổ học đã xác định mộ này thuộc về một chiến binh quý tộc của xã hội đương thời.

Làng nghèo nhưng có truyền thống hiếu học. Từ thời Lê Trung hưng đến thời Nguyễn, nơi đây nổi danh là làng khoa bảng với 11 người đỗ đại khoa[2]. Lại có 29 hương cống, cử nhân (gồm 17 người họ Nguyễn Đình, 8 người họ Lưu và 4 người họ Nguyễn Danh); còn sinh đồ, tú tài thì khỏi cần kể. Trong số nho sĩ có nhiều người thật sự đã mang tài năng phụng sự đất nước.

Đình Nguyệt Áng. Panorama © NCCong 2018 Feb.

Cụm di tích

Ngày nay, thôn Nguyệt Áng vẫn gìn giữ các di tích đình, chùa, văn chỉ. Văn chỉ ở ngay bên hữu đình làng. Tại đây còn 2 tầm bia đá cổ dựng năm 1667 và 1876, ghi tên những người đỗ đạt của làng. Văn bia cũng cho biết văn chỉ do Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh cùng em là Tiến sĩ Nguyễn Đình Trụ lập vào năm 1667, trước khi ông đi sứ.

Đình làng Nguyệt Áng nhìn qua sân, cổng, bức bình phong và hồ nước về hướng tây-nam. Cổng làm bằng 4 trụ biểu giáp với đường làng. Tòa tiền tế gồm 3 gian 2 dĩ nối với hậu cung bằng hai ống muống. Nội thất phần nhiều mới được sửa lại. Ngoài mấy tấm bia đá, cổ vật đáng kể nhất là đồ tế khí, lộ bộ, những bức hoành phi và câu đối chữ Hán.

Ban đầu đình quay hướng bắc về phía làng Vĩnh Trung. Trong niên hiệu Đức Long (1629-1634) đình được sửa chữa lại. Rồi đến niên hiệu Vĩnh Thọ (1658-1661), đình được lợp ngói, đổi hướng tây-bắc, nhìn về phía làng Siêu Quần. Hướng đình cũng như qui mô kiến trúc hiện nay được giữ nguyên kể từ lần sửa chữa vào tháng tư năm Canh Tý niên hiệu Thành Thái (1900). Cũng theo văn bia hiện còn lưu trong đình thì người tổ chức trùng tu là Phụ chính Đại thần Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), con rể cụ Lưu Quĩ.

Chùa Thanh Bảo tọa lạc ngay bên tả đình Nguyệt Áng trong một khuôn viên rộng hơn. Không rõ chùa được lập năm nào, dáng vẻ hiện đại là do lần sửa chữa dưới đời Bảo Đại (1932) để lại. Văn bia đề Tháng giêng năm Nhâm Thân (2-1932) có ghi việc bà Lưu Thị Tín lấy chồng là Nghị sĩ, Tiên chỉ, Cử nhân Lưu Thành, các con trai là Tham biện Lưu Chung, Lục sĩ Lưu Đạm đứng ra hưng công để dân làng tu bổ chùa. Năm 2017-2018 ngôi chùa được trùng tu và mở rộng với lối kiến trúc truyền thống.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận

Chú thích

[1] Bánh dầy (hay giầy) làm bằng xôi nếp trắng đồ kỹ rồi giã thật mịn, nặn hình tròn dẹt, không nhân hoặc bọc nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hay mặn. Bánh thường được cúng vào dịp Tết Nguyên Đán và Giổ tổ Hùng Vương để tỏ lòng biết ơn tổ tiên và đất Việt. Cũng như bánh chưng hình vuông màu xanh lá tượng trưng cho mặt đất, bánh dầy hình tròn màu trắng tượng trưng cho bầu trời trong quan niệm thời xưa về vũ trụ. Một số vùng không làm bánh chưng vuông mà gói bánh ú hay bánh tét hình tròn dài, theo tín ngưỡng phồn thực là để cầu tự.

[2] Trong đó có Nguyễn Đình Trụ (đỗ năm 1656), anh ruột Nguyễn Quốc Trinh (Trạng nguyên, 1659) và hai con Nguyễn Đình Bách (1683), Nguyễn Đình Úc (Thám hoa, 1700) cùng cháu tằng tôn của Nguyễn Quốc Trinh là Nguyễn Đình Quỹ (1715). Ngoài ra còn 3 người họ Lưu, gồm Lưu Tiệp (1772) và em ruột Lưu Định (1775) cùng cháu nội Lưu Quỹ (1835). Cụ Nguyễn Quốc Trinh (1625-1674) từng dẫn đầu đoàn sứ bộ năm 1667 sang đàm phán thành công với nhà Thanh cho gộp hai kỳ tiến cống (3 năm một kỳ) làm một. Sau cụ làm đến chức Thị lang bộ Hình, bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Lại. Khi mất được chúa Trịnh Tạc truy tặng Binh bộ thượng thư, tước Quận công. Cụ Nguyễn Đình Trụ (1627-1703) về hưu mở trường dạy học, có tới hàng nghìn học trò, hơn 70 người sau đó đỗ tiến sĩ và hương cống. Giám sát ngự sử Lưu Quỹ (1811-?) từng vì can ngăn vua mà bị giáng chức. Tháng 2 năm Tân Sửu (1841), Thiệu Trị lên ngôi, cụ đã cùng Nguyễn Bỉnh Đức dâng sớ khuyên vua lưu ý đến 10 điều sách lược trị nước.


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

xét trước, đăng sau

Diễn đàn này được điều hợp trước: bài vở đóng góp sẽ xuất hiện sau khi được quản trị viên chấp thuận.

Chi tiết về bạn (không bắt buộc)
Votre message