LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Đền > Miếu Cai Công (Thượng Thanh)

Cai Cong temple

Miếu Cai Công (Thượng Thanh)

Temple de Cai Cong

Thứ Ba 17, Tháng Bảy 2018

Miếu Cai Công tọa lạc ở khu đất phía đông-nam đầm Thanh Cao, thờ Đại nguyên soái Cai Công, một vị tướng của Hai Bà Trưng. Xếp hạng: Di tích lịch sử - văn hóa thành phố (1989). Địa chỉ: thôn Thượng Thanh, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Tọa độ: 20°53’20"N 105°45’23"E, cách Hồ Gươm khoảng 24km về hướng tây-nam. Điểm dừng bus lân cận: Nhà văn hóa thôn Chợ, ngã ba Bình Đà trên đường 21B (xe 75, 78, 91)

Lược sử

Làng Thượng Thanh tọa lạc ở xung quanh đoạn giữa con đường liên xã đi từ ngã ba thôn Chợ Bình Đà ra sông Đáy. Nơi đây vốn thuộc Thượng Thanh Thần, một vùng đất cổ nằm ven sông Đáy, tên chữ Hát Giang. Trải qua thời gian, sông Đáy đổi dòng để lại dấu tích là hồ Thanh Đàm, sau được ngăn thành mấy cái đầm, lớn nhất là đầm Cao Viên và đầm Thanh Cao.

Thời nhà Lý, Thượng Thanh Thần là trang trại rồi trở thành một xã của hương Thanh Oai. Đến đầu thời Nguyễn, xã Thượng Thanh Thần thuộc về tổng Nga My, huyện Thanh Oai. Năm 1945, tổng Nga My đổi thành xã, sau đó tách làm hai xã Thanh Mai và Thanh Cao. Trước đây, thôn Thượng Thanh nói riêng và xã Thanh Cao nói chung từng nổi tiếng với nghề làm pháo. Ngày nay, với trên 4000 nhân khẩu, Thượng Thanh là thôn lớn nhất trong 5 thôn của xã Thanh Cao, thuộc huyện Thanh Oai, Tp. Hà Nội.

Gần chùa Diên Phúc, ngôi đình và văn chỉ của Thượng Thanh (được xây dựng dưới thời nhà Mạc vào khoảng năm 1527-1529), có miếu thờ Đại nguyên soái Cai Công, tương truyền là một vị tướng của Hai Bà Trưng [1]. Tất cả cùng đầm Thanh Cao tạo nên một quần thể thắng cảnh du lịch, được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) xếp hạng Di tích tại quyết định số 88/QĐ-UB ngày 21-3-1989.

Kiến trúc

Theo QL21B đến ngã ba Bình Đà, du khách rẽ vào con đường liên xã đi về hướng Tây khoảng 700 m sẽ thấy cổng miếu Cai Công trên gò Thiên Mã cổ thụ um tùm. Đó là 4 trụ biểu hình vuông với bức tường hai bên đắp nổi hình đôi ngựa, trên các trụ có những đôi câu đối chữ Hán. Sau cổng, bên tay trái có nhà bia dựa lưng vào một am thờ nhỏ, tương truyền là nơi thờ phụ mẫu đức Cai Công, dân Thượng Thanh vẫn thường gọi là đền Ngoài.

Ngôi miếu tọa lạc ven đầm Thanh Cao. Mặt bằng hình chuôi vồ, nền rất cao so với mặt sân, bên trái là một nhà giải vũ ba gian. Tòa đại bái gồm ba gian với bốn vì kèo chính, dài 13m, rộng 7m. Theo sử liệu và hồi ức của dân làng thì ngôi miếu có từ ngay sau khi Đại nguyên soái Cai Công hóa. Trong ngọc phả còn ghi rằng lần tu sửa thứ nhất là vào thời Sĩ Nhiếp. Dáng dấp và quy mô của khu miếu hiện nay là kết quả của các lần trùng tu từ năm Khải Định tam niên (1918) đến nay. Cuối năm 2017, dải đất cạnh miếu cùng một phần đầm đã được san lấp làm đường, xây bình phong và bãi đỗ xe.

Di sản

Theo lệ cũ, tại miếu Cai công hàng năm có tổ chức lễ rước kiệu Đại nguyên soái để mở đầu hội làng Thượng Thanh vào ngày 10 tháng Hai âm lịch. Trong miếu đến nay còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý giá, gồm:

  • 11 đạo sắc phong của các triều đại Lê - Nguyễn. Sắc sớm nhất mang niên đại Vĩnh Thịnh lục niên (1710), muộn nhất là Khải Định cửu niên (1924).
  • 01 cuốn "Trưng Vương công thần Ứng Thiện Bảo Cai ngọc phả cổ lục" do Hàn lâm viện Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), Quản giám bách thần tri điện Hùng Lĩnh thiếu khanh sao lục năm Vĩnh Hựu thứ tư (1738) theo bản chính cũ và sao lại năm Tự Đức bát niên (1855).
  • 02 cỗ kiệu bát cống sơn son thếp vàng, được tạo tác ở thế kỷ 18 và đầu TK 20. Đòn cái dài 3,3m; đòn ngang dài 2,1m; đòn con dài 1,4m.
  • 01 bức cuốn thư hoành phi “Thần Châu hiển thánh” có diềm chạm lộng tứ linh và hổ phù, sơn thếp lộng lẫy, tạo tác năm 1938.
  • 01 bức cửa võng gỗ chạm lộng “Cửu long tranh châu”, sơn son thếp vàng, phong cách điêu khắc đầu TK 20.
  • 01 khán thờ cao 2,1m; rộng 1,4m; sâu 1,2m; phủ sơn mài; diềm chạm nổi lưỡng long chầu nguyệt; cửa mở phía trước kiểu bức bàn.
  • 01 hương án hình hộp cao 1,6m; rộng 1,7m; dày 0,85m; chia nhiều tầng, nhiều ô trang trí chữ thọ, hổ phù, tứ linh, hoa lá. Phong cách chạm nổi của TK 19.
  • 01 đôi cây quán tẩy với hình tượng phượng, long, sen, trúc mềm mại sinh động.
  • 01 đôi hạc gỗ cao 2,2m có phong cách tạo tác TK 18 đứng trên đôi rùa đá.
  • 01 cỗ ngai kiểu TK 17; 04 mâm khảm trai đường kính 0,6m; 02 đài nước khảm trai; 01 bộ bát bửu; 02 thanh kiếm; bộ tam sự, ngũ sự đồng và đồ tế tự khác.

Trong số 09 đôi câu đối thì đẹp nhất là của Giáp Đoài cung tiến năm Duy Tân Nhâm Tý (1912) với 22 chữ Hán khảm trai được ghép từ những hình lục giác có đường viền và chạm hoa ở giữa: “Khải Nhị Trưng hoàng nghiệp, thu Bách Việt cố cương, nguyên súy cao huân, Nam quốc sơn hà tiêu túc hận / Lưu xích kiếm Thần Châu, kỵ ngũ vân thiên tế, Đại vương linh khí, Tây hồ phong lãng thượng dư uy” (Tạm dịch: Giúp nghiệp vua Hai Bà, thu đất cũ Bách Việt, công cao nguyên soái, non sông nước Nam đà hết hận / Lưu thước kiếm Thần Châu, cưỡi trời mây ngũ sắc, khí thiêng đại vương, sóng gió hồ Tây vẫn còn uy). Dòng lạc khoản đề "Tự Đức Mậu Dần giải nguyên Thái tử Thiếu bảo Vinh lộc Đại phu trụ quốc hiệp biện Đại học sĩ Tiền Binh bộ Thượng thư Tổng đốc Bình Định Phú Yên đẳng xứ địa phương Vân Đình Dương Lâm Mộng Thạch cung soạn" cho biết tác giả là Dương Lâm, người Vân Đình đỗ giải nguyên năm 1878. [2]

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1Theo cuốn ngọc phả hiện lưu tại miếu do Hàn lâm viện Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) và được sao chép nhiều lần ở các đời sau, Cai Công vốn là con một gia đình khá giả, quê ở động Lăng Xương, phủ Hưng Hóa, đạo Sơn Tây. Thân phụ là Vương Quang, giỏi thi thư, thân mẫu là Đào Thị Hồng, ngoài 40 tuổi mới sinh được Ngài. Tương truyền, Ngài lên chín tuổi đã được cha mẹ đón thầy dạy cả văn lẫn võ. Năm 20 tuổi, cha mẹ Ngài thấy thái thú Tô Định tàn bạo, liền bỏ quê hương đi lánh nạn đến đất Thượng Thanh Thần, xin ở nhờ chùa Diên Phúc làm thủ tự. Khi ông bà qua đời, để lại nhiều điều phúc cho dân. Cai Công mai táng phụ mẫu ở ven đầm, từ đó dốc sức vào việc văn ôn võ luyện, thu thập nhân tài.

Nghe tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Cai Công giả làm nữ tướng, đến xin được đứng dưới cờ. Bà Trưng vui mừng nhận Cai Công làm bộ tướng và hẹn ngày hội quân. Cai Công trở về Thượng Thanh Thần, chỉ trong 15 ngày đã tập hợp được 359 nghĩa binh. Tháng 3 năm 40, Cai Công làm lễ tế cờ ở miếu Thượng Thanh rồi kéo quân lên cửa Hát Giang theo Hai Bà Trưng lập đàn tế cáo trời đất. Cai Công được phong tướng tiên phong, đóng giả gái thống lĩnh 3 vạn quân với 500 ngựa, chia hai đường thủy bộ hành quân chiến đấu đánh bại Tô Định. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Bà Trưng Trắc lên ngôi vua, Cai Công được phong Khai quốc Đại nguyên soái, giúp nhà vua củng cố chính quyền và xây dựng đất nước.

Cai Công trở về thăm Thượng Thanh Thần, nhân dân vui mừng đón rước và muốn giết trâu bò dâng hiến quan quân. Cai Công vội ngăn lại và dạy rằng: “Quốc phú bình cường là nhờ sức kéo của trâu bò. Trâu bò là con vật có ý nghĩa vậy nỡ nào mà giết nó". Dân làng Thượng Thanh nghe theo và làm cỗ chay dâng tiến thì Ngài nhận. Từ đó đến nay, dân làng Thượng Thanh có tục làm cỗ chay. Cai Công còn sai quân sĩ cùng dân làng trùng tu lại vọng cung bên hồ Thanh Đàm thành đình làng thờ Đương cảnh thành hoàng.

Ba năm sau, nhà Đông Hán sai Mã Viện mang đại quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh chiến đấu dũng cảm nhưng không cản được giặc. Nghĩa quân lui về giữ Cẩm Khê, cuối cùng tan vỡ, Hai Bà Trưng hy sinh giữa trận tiền. Cai Công vẫn tiếp tục chiến đấu quyết liệt. Đến khi chỉ còn 28 nghĩa binh, ông mở con đường máu, phá vây, rút về đến Thượng Thanh Thần để mưu nghiệp về sau. Nhưng ở quê hương Ngài đã hóa, để lại niềm tiếc thương kính phục. Cảm công đức của Ngài, dân làng Thượng Thanh Thần lập miếu ngay bên bờ hồ, thờ phụng cho đến nay.

[2Tham khảo tại đây.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

xét trước, đăng sau

Diễn đàn này được điều hợp trước: bài vở đóng góp sẽ xuất hiện sau khi được quản trị viên chấp thuận.

Chi tiết về bạn (không bắt buộc)
Votre message