LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Phố cũ > Phường Hàng Buồm > Ngõ Phất Lộc

Phat Loc Alley

Ngõ Phất Lộc Ngõ Phất Lộc

Ruelle Phat Loc

Thứ Năm 1, Tháng Tám 2013

Ngõ Phất Lộc có tổng chiều dài khoảng 300m, gồm ba nhánh nhỏ ăn thông ra ba con phố khác nhau: Hàng Mắm, Lương Ngọc Quyến và Nguyễn Hữu Huân; nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, cách Hồ Gươm chừng 300m về hướng bắc. Điểm dừng xe bus gần nhất: đầu các phố Hàng Muối (bus 04, 14, 18, 31, 34, 36, 40) và Nguyễn Hữu Huân (04, 08, 11, 14, 18, 23, 31, 34, 36, 40).

JPEG - 160.8 kb
Ngõ Phất Lộc—Hàng Mắm. Ảnh ©2013 NCCong

Lược sử

Ngõ Phất Lộc toạ lạc trên đất của giáp Tiên Hạ, làng Dũng Thọ, thuộc phường Đông Các, huyện Thọ Xương, phía đông kinh thành Thăng Long cũ. Tên thời Pháp thuộc cũng vẫn là ngõ Phất Lộc (ruelle Phất Lộc).

Điểm đặc biệt ở đây là ngõ gồm ba nhánh nhỏ có lối vào từ ba con phố khác nhau: cuối phố Hàng Mắm và đầu các phố Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Hữu Huân. Ba nhánh này lại hội tụ ở cổng ngôi đền Tiên Hạ.

Đầu ngõ Phất Lộc phía phố Lương Ngọc Quyến. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 218.6 kb
Đền Tiên Hạ. Ảnh ©2013 NCCong

Phất Lộc nguyên là tên một làng của huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình; năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) có thư sinh họ Bùi đến Thăng Long học trường Quốc Tử Giám rồi lập nghiệp tại thôn Tiên Hạ. Sau đó người làng cũng theo lên, dần dần dân Phất Lộc chiếm đa số và hình thành tên ngõ. Người Phất Lộc dựng đình riêng ở số nhà 46 trong ngõ. Số 30 là nhà thờ họ Bùi, hàng năm con cháu vẫn tới đây giỗ tổ. Bùi Tú Lĩnh người soạn văn bia đình Thanh Hà cũng thuộc dòng họ này.

Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1946—1954), các tiểu đội trưởng đầu tiên của Liên khu I Hà Nội đã được huấn luyện tại đây và căn cứ quân sự ở ngõ Phất Lộc đã đứng vững cho đến tận đêm Trung đoàn Thủ đô được lệnh rút ra khỏi thành phố qua cầu Long Biên cạnh đấy.

Giao điểm Phất Lộc—Hàng Mắm—Hàng Bạc. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 146.8 kb
Cổng đền Tiên Hạ. Ảnh ©2013 NCCong

Đền Tiên Hạ

Số nhà 48 ngõ Phất Lộc là một trong những ngôi đền ở Hà Nội có thờ Nguyễn Trung Ngạn (1289—1370), một danh thần thời Trần[1]. Hiện tại nơi đây cũng thu hút khá đông con nhang đệ tử của đạo Mẫu. Đền Tiên Hạ được tôn tạo, sửa chữa nhiều lần, trong đó phải kể đến lần trùng tu lớn vào năm 1866 đã được văn bia ghi lại.

Kiến trúc của đền được bố cục theo kiểu chữ “Công”. Cổng xây kiểu vòm cuốn, trên nóc là một nậm rượu, hai bên có hai cột đồng trụ, đỉnh trụ trang trí hình búp sen. Qua cổng là một sân nhỏ lát gạch Bát Tràng. Cuối sân có tượng hai ông Hộ pháp canh giữ cửa ra vào, phía sau là khu thờ tự gồm: tiền tế, nhà cầu và hậu cung. Tất cả được khuôn lại trong hệ thống tường bao.

Đền Tiên Hạ giữa ngõ Phất Lộc. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 153.1 kb
Hộ pháp đền Tiên Hạ. Ảnh ©2013 NCCong

Tiền tế là căn nhà nhỏ một gian hai dĩ, làm theo kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai, kết cấu bộ khung gỗ nhà tiền tế gồm 4 vì được làm theo kiểu “giá chiêng chồng rường con nhị” các thanh xà, rường, hoành, kẻ, được bào trơn, bào soi. Nhà cầu gồm 1 gian có hình vuông, trần nhà được bưng kín bằng ván gỗ. Phần kết cấu gỗ được đặt trên 4 cột xi măng vuông 20 cm x 20 cm. Hậu cung gồm một gian hai dĩ chạy ngang. Các bộ vì đỡ mái làm theo kiểu quá giang trụ trốn, bào trơn. Chính giữa hậu cung xây một bệ gạch cao 80 cm, phía trên bài trí hai bộ long ngai bài vị thờ thần, được đặt trang trọng trong khám thờ chạm rồng.

JPEG - 199 kb
Trong đền Tiên Hạ. Ảnh ©2013 NCCong

Hiện nay trong đền còn lưu giữ các di vật văn hoá có giá trị lịch sử và nghệ thuật như: hoành phi, câu đối, long ngai, bài vị, khám thờ… Đặc sắc nhất là hệ thống bia đá, gồm 5 tấm, trong đó có tấm bia “Tiên Hạ linh từ trùng tu bi ký” lập năm Bính Dần niên hiệu Tự Đức thứ 19 (1866).

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] Nguyễn Trung Ngạn nguyên tên là Cốt, tự Bang Trực, hiệu Giới Hiên. Ông người làng Thổ Hoàng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, đỗ Hoàng giáp năm 16 tuổi. Ông từng theo các vua ra trận, đánh Ngưu Hống, Ai Lao. Hồi làm Tào viện sứ ở Khoái Châu, ông có kế hoạch đặt kho chứa thóc để chấn cấp cho dân đói, vua Trần xuống chiếu cho các lộ trong nước phỏng theo mà làm ở địa phương mình. Ông cũng thành thạo về luật pháp, dựng nhà xử kiện, cùng với Trương Hán Siêu biên soạn bộ “Hoàng Triều đại điển” và khảo soạn bộ “Hình Thư” để ban hành. Năm 1324, vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu, Dương Tông Thuỵ sang báo tin lên ngôi. Bọn chúng đi lại nghênh ngang hống hách bị Nguyễn Trung Ngạn lấy lý lẽ bẻ lại. Hợp Mưu đuối lý phải xuống ngựa bưng chiếu đi bộ. Vua rất hài lòng.

Nguyễn Trung Ngạn có khả năng kiêm quản nhiều việc một lúc: năm 1332, ông vừa phụ trách việc trong triều, lại vừa làm An phủ sứ Thanh Hoá; năm 1337 vừa phụ trách Viện Quốc sử, lại vừa làm An phủ sứ Nghệ An. Khi đi sứ, ông đã giữ đúng phép tắc giữ gìn quốc thể. Trải thờ 5 đời vua, bàn luận, tâu bày phần nhiều bổ ích, văn chương, sự nghiệp nổi tiếng một thời. Suốt mấy chục năm đảm nhiệm các trọng trách, cuối cùng Nguyễn Trung Ngạn được giữ vị trí Đại hành khiển, Thượng thư hữu bật, Đại học sĩ, Trụ quốc khai huyện bá, Thân Quốc công.

Thơ của ông được chép đầy đủ trong “Toàn bộ thi lục” của Lê Quý Đôn. Phan Huy Chú khen thơ ông hùng hồn, mạnh mẽ, có phong cách của thơ Đỗ Phủ. Tác phẩm được góp lại trong “Giới Hiên Thi Tập”.


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong