LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Tham quan > Sông Tô Lịch

To Lich River

Sông Tô Lịch

Rivière To Lich

Thứ Ba 6, Tháng Tám 2013

Toàn bộ sông Tô Lịch hiện nay còn lại gần 20km chiều dài, bề ngang cũng bị thu hẹp và thuyền nhỏ chỉ lưu thông được trong từng đoạn ngắn. Dòng sông từ Hồ Tây chảy song song với các con đường Thụy Khuê, Bưởi, Láng rồi đi qua các phường Khương Đình, Kim Giang, Đại Kim, Thanh Châu, Huỳnh Cung, Tựu Liệt, Yên Ngưu, Văn Điển, Cổ Điển và đổ vào hồ Yên Sở.

JPEG - 180.7 kb
Đền Long Tỉnh, Thụy Khuê. Ảnh ©2015 NCCong

Lược sử

Sông Tô Lịch gắn liền với danh tiếng của nhiều làng nghề và nhiều nhân tài đất kinh đô. Theo sử chép, xưa kia thuyền chở hàng và thuỷ quân có thể đi lại dễ dàng qua đây và có hai cửa sông ăn thông với dòng Nhị Hà. Cửa Thiên Phù ở phía tây-bắc Hồ Tây, đón nguồn nước từ sông Hồng chảy về vùng Nghĩa Đô, cạn từ thời Lý. Cửa Hương Bài tức cửa Giang Khẩu, sau đổi tên là Hà Khẩu, bị Pháp lấp và xây phố xá.

JPEG - 140.2 kb
Đền Đồng Cổ Kẻ Bưởi. Ảnh Đăng Định

Trong quá trình sông Hồng đổi dòng về hướng đông-bắc và Hà Nội mở rộng đô thị, cả hai cửa sông này cùng nhiều hồ ao đã bị lấp dần và biến mất hoàn toàn vào đầu thế kỷ 20. Từ đó Tô Lịch trở thành một kênh nước thải lớn của thành phố với độ dài gần hai chục cây số, kéo từ Hồ Tây cho đến hồ Yên Sở ở phía đông-nam Hà Nội. Hiện nay chủ yếu chỉ còn dấu tích sông Tô ở những địa danh như Hồ Khẩu (“miệng hồ”), Chợ Gạo, Hàng Buồm...

JPEG - 144.9 kb
Chùa Mật Dụng. Ảnh P.Đ.Quang

Ngay từ thời Bắc thuộc, các sách Lương thư, Trần thư của Trung Quốc đã chép rằng năm 545 Nam Việt đế Lý Bí cho đắp dựng một toà thành bên dòng sông, được gọi là “Tô Lịch giang thành” (Thành sông Tô). Theo sách Việt Điện U Linh thì Tô Lịch là tên một vị hiền tài quê Thăng Long, có nhiều công đức giúp dân làng nơi ông sinh trưởng nên khi mất được dựng đền thờ và tôn kính là “Tô Lịch giang thần” (thần sông Tô).

JPEG - 46.4 kb
Chợ Bưởi và cổng đình Yên Thái cuối thế kỷ 19

Vào thế kỷ 8 và thứ 9, dọc bờ nam sông Tô thuộc vùng đất nội thành Thăng Long có thành Giao Châu còn gọi là Đại La Thành, cửa mở ra phía sông Hồng gọi là Đông La Môn. Lại có Tử Thành tức thành Con. Đến năm 858, Tử Thành được mở rộng, bên ngoài hào vây quanh thành được rào bằng tre, trúc nên gọi là thành Lặc Trúc. Trải qua những biến cố lịch sử, sông Tô Lịch từng mang nhiều tên khác như Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo.

Dưới thời nhà Lý, ở phía tây-bắc La Thành ven tường thành đất có ngôi chợ Hồng Tân, tức chợ Bưởi hiện nay. Sông Tô Lịch chảy qua đây, giao lưu với sông Thiên Phù ở ngã ba gần chợ. Bến Hồng Tân xưa sầm uất, đông vui người mua kẻ bán, thuyền bè xuôi ngược chở nông sản ở các vùng quê ngoại thành Thăng Long và nguyên vật liệu từ miền ngược như gỗ, nứa, tre, song, mây... cùng các đặc sản khác về đây. Thương lái mua, bán hoặc trao đổi hàng hoá với phố xá kinh kỳ được thuyền buồm, thuyền thoi từ bến Nứa (Long Biên) chở đến.

Sân đình làng Yên Thái. Panorama ©2015 NCCong

JPEG - 192.7 kb
Cổng làng Yên Thái. Ảnh ©2015 NCCong

Nhánh sông Tô Lịch còn lại ngày nay coi như bắt nguồn từ làng Thuỵ Chương (đầu phố Ngọc Hà) chảy về hướng tây qua đền Voi Phục đến Chợ Bưởi thì quặt xuống phía nam. Theo dọc phố Thuỵ Khuê xưa kia có 3 làng nghề làm giấy dó cổ truyền là: Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái (Bưởi). Làng nào cũng có cổng riêng xây kiểu khác nhau. Trên phố này toạ lạc ngôi đền thờ Vệ Quốc đại vương, được lập từ thời Lý, ghi niên hiệu Thiên Thuận (năm 1128). Đền thờ hai anh em Cống Lễ và Cá Lễ, hai nhân vật truyền thuyết có công đánh giặc, giữ nước và trị thủy giúp dân.

Bên bờ sông Tô thuộc làng Đông Xã còn có đền Đồng Cổ, thờ thần Trống Đồng. Thời Lý—Trần, nơi đây hàng năm có mở hội thề trung hiếu với vua với nước. Ở đình làng Yên Thái gần chợ Bưởi có ban thờ thành hoàng Vũ Phục với sự tích hai vợ chồng người bán dầu lạc, quê ở xã Xuân Tảo, đã nguyện trẫm mình xuống sông Thiên Phù cho đất lấp cạn sóng lũ khỏi xói lở vào chân thành và cứu vua Lý khỏi bệnh đau mắt.

JPEG - 89.3 kb
Di tích Pháo đài Láng. Ảnh ©2013 NCCong

Khúc sông Tô ở mạn tây kinh thành chảy từ Chợ Bưởi xuống phía nam qua các làng nghề với nhiều đình, đền thờ những thần dân có công với nước và nhà thờ họ của các dòng họ khoa bảng nổi tiếng. Cầu Giấy mang tên nghề làm giấy xưa kia của Yên Hoà. Đối diện với làng Cót là làng Láng Thượng ở bờ đông sông Tô, nơi có Chiêu Thiền Tự, tức chùa Láng, thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh.

Sông Tô chảy tiếp đến quãng làng Láng Trung lại ngoặt về hướng đông-nam, không xa đó là di tích Pháo đài Láng[1], nơi quân dân Hà Nội nổ những phát đạn đầu tiên vào các trại lính Pháp ở nội thành, mở màn ngày Toàn quốc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược (19-12-1946).

JPEG - 16.9 kb
Đoạn Tô Lịch chảy qua Thanh Liệt. Ảnh ©2012 NCCong

Khúc sông Tô ở phía nam thành Thăng Long chảy qua Trung Hòa, Thịnh Quang, Thượng Đình... rồi đến xã Kim Lủ là quê hương của các danh nhân văn hoá như: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thế, Nguyễn Trọng Hợp.

Sông Tô tiến đến gần đoạn sông Nhuệ nay đã cạn ở nơi đối diện làng Hữu Từ, thuộc xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì. Sông chảy qua xã Thanh Liệt là quê hương của võ tướng Phạm Tu tức Lý Phục Man, nổi tiếng trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí ở thế kỷ 6. Nhà giáo Chu Văn An cũng sinh ra tại đây, một vị túc nho thời Trần đã từng dâng vua "Thất trảm sớ" xin chém đầu 7 viên quan đại thần tham nhũng. Nơi ông mở trường dạy học nay là văn chỉ Chu Văn An cùng với bia ký còn lưu giữ của 30 vị khoa bảng huyện Thanh Trì. Cuối cùng sông Tô chảy vào hồ Yên Sở rồi đổ ra sông Hồng.

JPEG - 34.7 kb
Nơi Tô Lịch đổ vào hồ Yên Sở. Ảnh ©2012 NCCong

Từ đầu thế kỷ 20 toàn bộ dòng sông Tô Lịch trở nên ô nhiễm nặng vì chủ yếu chỉ chở các loại nước thải công nghiệp và sinh hoạt từ nội thành mà hầu như không qua xử lý. Cuối những năm 1990, Hà Nội đã có dự án nạo vét, kè bờ, xây đường, bắc cầu, nâng cấp cảnh quan và môi trường. Sau nhiều nỗ lực cải tạo tốn kém, gần đây nhiều đoạn sông bị xâm lấn trở lại và vẫn rất bẩn do lưu lượng nước thải đã lên đến khoảng 150.000m³ mỗi ngày.

Di tích dọc sông

Chú thích

[1] Pháo Đài Láng do Pháp xây dựng vào năm 1940, trên năm mẫu ruộng ở làng Láng Trung. Trong pháo đài đặt bốn khẩu pháo cao xạ 75 ly, có đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn, hai khẩu đại liên và nhiều súng trường. Năm 1946, các chiến sĩ bộ đội và tự vệ xã Yên Lãng đã nhanh chóng làm chủ kỹ thuật, chuyển pháo cao xạ thành pháo mặt đất. Pháo Đài đã lập chiến công vang dội bằng việc bắn rơi một máy bay Pháp vào ngày 21-12-1946.


Đông Tỉnh