LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Lang thang > Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Temple of Literature

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Temple de la Littérature

Thứ Hai 24, Tháng Hai 2014

Văn Miếu—Quốc Tử Giám là một quần thể đã trải qua 10 thế kỷ. Xếp hạng: Di tích quốc gia đặc biệt về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật (1962). Địa chỉ: số 58 phố Quốc Tử Giám, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Hà Nội. Tọa độ: 21°01’43" N 105°50’09" E, cách Hồ Gươm hơn 2km về hướng tây. Điểm dừng xe bus gần nhất: các phố Quốc Tử Giám (bus 38), Cát Linh (23, 25, 49), Tôn Đức Thắng (02, 23, 25, 41, 49).

Bản đồ trực tuyến

Trường đại học cổ nhất

JPEG - 14.9 kb
Tượng Chu Văn An

Quốc Tử Giám được thành lập tại kinh đô Thăng Long vào năm Bính Thìn (1076) dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072—1128). Ngôi trường tọa lạc cùng trong khuôn viên của Văn Miếu, được xây dựng trước đó để thờ Khổng Tử, vị tổ sư của Nho học. Quần thể Văn Miếu—Quốc Tử Giám ngày nay là một trong những địa điểm nổi tiếng và có nhiều khách du lịch đến thăm nhất của Hà Nội.

Quốc Tử Giám là tên gọi vào thời Lý (1010—1225), đến thời Trần (1225—1400) gọi là Quốc Tử Viện sau đổi thành Quốc Học Viện. Sang thời Lê (1428—1788) trường mang tên Thái Học Viện, nhà trường lúc này được mở rộng, có quy mô học đường, có ký túc xá, lại là nơi trực tiếp in sách. Vào thời Nguyễn (1802—1945), Quốc Tử Giám cũng như kinh đô đều chuyển vào Huế nhưng Văn Miếu Hà Nội vẫn tồn tại như một di tích.

Quốc Tử Giám là trung tâm văn hóa giáo dục lớn của cả nước. Ban đầu, đây là nơi học của hoàng tử và con em tầng lớp quý tộc, nhưng về sau mở cửa đón tiếp nhân tài trong cả nước đến học tập và rèn luyện. Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam từng giữ chức Tư Nghiệp (hiệu trưởng) của trường.

JPEG - 55.5 kb
Sa bàn Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Thi cử Nho học

Việc học và thi cử thời xưa có nhiều qui định, nội dung chặt chẽ. Từ 6, 7 tuổi trẻ bắt đầu học sách Sơ học: Tam tự kinh, Ngũ tự kinh, Ngũ ngôn và tập làm vǎn câu đối 2 chữ, 4 chữ. Chừng 10 tuổi trở lên học Ngũ kinh, lịch sử Trung quốc, Việt Nam, tập làm vǎn câu đối 7, 8 chữ. Ngoài người hoàng tộc và con quan lại, nhà vua còn chọn những người tuấn tú cho vào học ở các trường trong kinh đô và Quốc Tử Giám.

Sau một thời gian học lầu thông kinh sử, học sinh dự kỳ thi, đầu tiên là thi hương tức là kỳ thi của một tỉnh hoặc liên tỉnh để chọn người vào các kỳ thi sau tại kinh đô gọi là thi Hội, thi Đình. Thi hội là kỳ thi quốc gia dành cho những người đã kinh qua thi Hương và các giám sinh đã mãn khoá Quốc Tử Giám. Thi Hội và thi Đình là cuộc kiểm tra đánh giá cao nhất đối với các bậc tài nǎng của đất nước nên còn được mệnh danh là Đại tỷ, Đại khoa. Thi hội dần dà gồm 4 kỳ, người đỗ cả 4 kỳ được cấp bằng tiến sĩ. Thi Đình còn gọi là Điện thí tức là thi tại sân vua, vua thân hỏi bài. Thi Đình chỉ để xếp loại các tiến sĩ đã đỗ ở kỳ thi hội. Khoa thi tiến sĩ mở đầu vào nǎm Ất Mão (1075) đời Lý Nhân Tông và khoa cuối cùng vào nǎm Kỷ Mùi (1919) đời Nguyễn Khải Định.

JPEG - 53.3 kb
Quần thể di tích hồi giữa TK 20

Thi Hội và thi Đình diễn ra trong khoảng 8 tháng: mùa xuân thi Hội đến mùa thu nǎm ấy thi Đình. Một vài khoa đầu nhà Lý cho thi ám tả ở kỳ thứ nhất. Về sau, ở kỳ thứ nhất cho thí sinh làm kinh nghĩa và kinh truyện; mỗi thứ một bài, mỗi bài từ 1000 chữ trở lên.

Lối thi này đến nhà Hồ lại có thêm kỳ thứ nǎm hỏi về toán. Dần dà theo Lê Quý Đôn triều đình quy định mức điểm cho mỗi kỳ thi. Nguyên tắc chung là mỗi kỳ thi phải qua 2 lần chấm sơ khảo và phúc khảo. Đủ điểm kỳ thi thứ nhất mới được thi kỳ 2 rồi kỳ thứ 3 thứ 4 cũng theo luật đó. Trong một số khoa thi buổi đầu, số thí sinh còn ít ỏi nên việc thi được tổ chức ở ngay trường Quốc Tử Giám.

Các tiến sĩ được hưởng quyền vinh quy bái tổ và khắc tên lên bia đá đặt trong Văn Miếu.

Vǎn Miếu Môn. Panorama ©2014 NCCong

JPEG - 41.6 kb
Đại Trung Môn

Kiến trúc

Ngày trước học sinh, thí sinh hoặc đi bộ hoặc cưỡi ngựa, đi kiệu đều cảm thấy vinh dự khi đến khu Vǎn Miếu—Quốc Tử Giám. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính được thiết kế rất đồ sộ theo kiểu tam quan trên có 3 chữ Vǎn Miếu Môn. Cửa giữa dành cho vua, quan lại hoặc các bậc thầy đến giảng sách. Sau Vǎn Miếu Môn mở ra một khu rộng chính là nơi các thí sinh ngày trước cắm lều ngồi thi. Một lối đi xây bằng gạch ở giữa xuyên thẳng từ cửa đến nhà thờ biểu tượng sự thống đạt chính trực của đạo học.

Đi tiếp, đường giữa dẫn ta đến cổng "Đại Trung Môn" mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên có hai cổng nhỏ có ghi chữ mục tiêu lời chúc học hành "Thành Đức", "Đại Tài".

JPEG - 36.5 kb
Khuê Văn Các

Một công trình đẹp, cao như gác hai tầng, phía trên được chạm trổ bằng gỗ đã hiện ra phía sau Đại Trung Môn. Đó là Khuê Vǎn Các, căn gác tôn vẻ đẹp của sao Khuê, ngôi sao biểu tượng về vǎn học. Công trình này được xây dựng vào đầu thế kỷ 19.

Khu thứ 3 là từ gác Khuê Vǎn tới một cổng xây cao to hơn cổng trước, trên có hàng chữ "Đại Thành Môn". Cái đẹp trong kiến trúc cổ của cha ông ta xưa cũng thể hiện ở đây: trước một khu thờ kính cẩn đền, đình có một hồ bán nguyệt.

Giữa khu thứ 3 có một hồ vuông mang tên rất đẹp: Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng, Whell of Celeste Light). Mặt nước có tường hoa bao quanh in bóng gác Vǎn và cây xanh lung linh, tạo cho người học ngày trước và khách tham quan ngày nay một cảm giác trong sáng, thư thái.

Hai bên hồ là 2 khu nhà bia với những bia đá lớn cao bằng người, đặt trên những chú rùa bằng đá khổng lồ. Có tất cả 82 bia ghi tên các vị tiến sĩ đã đỗ trong 82 khoa thi. Trân trọng, tỉ mẩn đọc ta có thể thấy tên một số nhà chính trị, vǎn học, sử học nổi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Nhậm, Lê Quí Đôn, nhà toán học Lương Thế Vinh, ông tổ nghề in Lương Nhữ Hộc v.v. Từ các nhà Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Hậu Lê đến Nguyễn, tổng cộng 185 khoa thi có 2906 lần người đỗ, trong đó có 56 trạng nguyên.

Bước qua Đại Thành Môn một khung cảnh khoáng đạt ấn tượng mở ra từ khoảng sân giữa rất rộng lát gạch bát. Hai bên là 2 dãy nhà tả vu, hữu vu, vốn dùng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà đại bái và hậu cung.

JPEG - 69.3 kb
Sân nhà đại bái Văn Miếu

Sau tòa đại bái chính là khu vực của trường Quốc Tử Giám cũ. Những bậc thầy như Chu Vǎn An, Bùi Quốc Khải, Nguyễn Trù,... đã từng giữ chức vụ tư nghiệp (hiệu trưởng) ở đây. Các triều đại phong kiến đã tuyển chọn nhiều người tài giỏi, đỗ đạt cao, bổ xung vào các chức Thị độc, Thị giảng, Hữu tư giảng, Tả tư giảng, Thiếu phó, Thiếu bảo để chǎm lo việc giảng dạy và đào tạo lớp sĩ phu giúp vua, giúp nước.

Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái treo "Bích Ung đại chuông" (chuông lớn của nhà Giám), bên phải có một chiếc khánh đá. Chuông Bích Ung do Nguyễn Nghiễm đứng ra đúc nǎm 1768. Tấm khánh mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ nói về công dụng loại nhạc khí này.

JPEG - 124.1 kb
Quốc Tử Giám và khu Thái học

Khi nhà Nguyễn dời trường Giám vào Huế thì Văn Miếu Hà Nội được chuyển làm đền Khải Thánh. Nǎm 1946—1947 giặc Pháp đã đốt trụi khu vực này. Sau ngày giải phóng thủ đô 1954, toàn bộ quần thể di tích đã được phục hồi. Đợt mới đây bắt đầu từ 1991, Bộ Vǎn hoá và UBND thành phố đã đầu tư tôn tạo Văn Miếu, khu Thái học, điện Đại Thành, tường bao, hệ thống hạ tầng và dựng mái nhà bia. Thường xuyên tại đây có nhiều hoạt động vǎn hoá giáo dục như hội thảo khoa học, biểu diễn nghệ thuật, kỉ niệm danh nhân, lễ hội dân gian, vinh danh các trí thức, v.v..

Di tích lân cận


Bài và panorama: Đông Tỉnh NCCong