Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Phú Gia

Ba Gia Pagoda

Chùa Phú Gia

Bà Già Tự

Cổng chùa Bà Già nằm cạnh đình Phú Gia. Photo NCCong ©2014

Chùa làng Phú Gia có ít nhất từ đầu thế kỷ XVII. Tên chữ: Bà Già Tự. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1996). Địa chỉ: ngõ 209 An Dương Vương, 3RQ3+MR Phú Thượng, Tây Hồ, Hanoi, Vietnam. Toạ độ: 21°5’22"N 105°48’16"E. Cách Hồ Gươm: 9km về phía tây-bắc. Điểm dừng bus lân cận: 327 An Dương Vương (xe 31, 58)

Địa lý

Phường Phú Thượng toạ lạc ở mạn tây-bắc của Hồ Tây, khoảng giữa hai đầu phía nam của cầu Thăng Long và cầu Nhật Tân. Trước khi đô thị hoá, đó là một xã nông nghiệp thuộc huyện Từ Liêm. Xã nằm ven đê sông Hồng, từ tây sang đông bao gồm ba làng: Thượng Thụy (làng Bạc), Phú Gia (làng Gạ) và Phú Xá (làng Sù), đều có di tích lịch sử và truyền thống văn hoá lâu đời. Một nhà thờ Ki-Tô giáo khá lớn đã được xây từ đầu thế kỷ XX tại Thượng Thụy. Còn Phú Xá là quê của tiến sĩ Nguyễn Kiều (1695—1771), chồng Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705—1748), mấy năm trước tôi còn viếng mộ của họ ở đây.

Gác chuông chùa Bà Già. Photo NCCong ©2014

Có bài ca dao như sau:
“Làng Gạ có gốc cây đề
Có sông tắm mát có nghề bán xôi
Làng Gạ đi bán bánh trôi
Làng Sù bán bún dính môi lằng nhằng”.

Đó là vì xưa nay dân Phú Gia vẫn nổi tiếng với tài nấu xôi và làm rượu nếp, bánh trôi, bánh đa kê; còn dân Phú Xá thì vốn có nghề làm bún và trồng đào, hiện nay các vườn đào ở đây còn nhiều hơn cả Nhật Tân.

Lược sử

Trong sách “Bản xã thần ký” (ghi chép về các thần của xã nhà) còn lưu giữ tại đình làng, có ghi: Thôn Phú Gia xưa tên là thôn Bà Già, có sông Già La chảy qua. Già La là tên cổ của sông Thiên Phù. Từ thời Bắc thuộc, nơi đây đã có nhiều miếu thờ thổ thần. Tuy nhiên sông Thiên Phù bị cạn đã hàng nghìn năm, hiện nay cũng không còn tên thôn Bà Già.

Chùa Bà Già và đình Phú Gia. Panorama NCCong ©2014

Có hai cách giải thích khác nhau về tên chùa Bà Già. Theo sách “Đại Việt Sử ký Toàn thư”, thôn Bà Già là nơi các vua nhà Trần từng đến ở. Một bộ phận tù binh Chiêm Thành (Champa) được đưa từ phía nam ra đây đã dựng nên ngôi chùa mà trong sách phiên âm là Đa-da-li. Thái úy Trần Nhật Duật (1254—1330) thường cưỡi voi tới đàm đạo với vị sư trụ trì người Champa. Có thể cái tên Bà Già đã bắt nguồn từ Đa-da-li mà ra.

Theo nguồn tư liệu khác, cũng trên đất thôn này xưa kia tọa lạc một ngôi chùa mang tên An Dưỡng Tự. Về sau chùa bị hư hại nặng, đã dời về cạnh đình làng trên gò Con Quy. Có hai chị em gái chuyên nghề buôn muối đã phát tâm bồ đề bỏ tiền ra xây dựng, tu sửa lại chùa, tạc tượng Phật, dựng gác chuông. Khi hai bà mất đi, để tỏ lòng biết ơn, dân trong vùng đã đúc tượng và rước vào chùa thờ như tượng hậu Phật, từ đó có tên chùa Bà Già.

Ngõ vào chùa Bà Già nhìn từ trong ra. Photo NCCong ©2014

Di tích

Ngày nay, bên cạnh con hồ nhỏ của làng Phú Xá có một ngôi chùa mang tên Bà Già tự. Chùa quay mặt về hướng nam, phía trước cổng là một gốc đa cổ thụ được xếp hạng Cây di sản vào năm 2012. Trong chùa có tấm bia khắc năm 1638 cho biết chùa từng được trùng tu lớn vào năm Dương Hòa thứ 2 (1636). Như vậy ngôi chùa đã tồn tại ít nhất là từ đầu thế kỷ XVII.

Chùa hiện còn lưu giữ một quả chuông đồng khá lớn được đúc năm 1665, cao 146cm, trên khắc chữ “Trùng tạo trú hồng chung”. Ngoài ra, ở đây còn có bức hoành phi đề chữ “Bà Già tự” và tấm bia “Bà Già tự tân tạo bi kí” được khắc vào năm 1683. Hệ thống tượng tròn gồm 58 pho, trong đó có 46 pho tượng Chư Phật, La Hán, Đế Thích và Phạm Thiên, được tạo tác công phu theo phong cách nghệ thuật thời cuối Lê đầu Nguyễn.

Tiền đường chùa Bà Già. Photo NCCong ©2014

Chùa Bà Già được xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia vào năm 1996. Năm Nhâm Thìn 2012 chùa đã được trùng tu, tôn tạo theo phong cách đương thời với mặt bằng xây dựng theo kiểu chữ “Công” truyền thống. Sau tam quan là một sân rộng, tiếp theo là tiền đường, thiêu hương, thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu và các công trình kiến trúc phụ.

Ngay phía trước chùa Bà Già là đình Phú Gia. Hàng năm vào mùng 8 đến 11 tháng Giêng (chính hội là 10/1 âm lịch), dân làng mở hội tại đây. Theo thần phả, một vị tướng có công đánh giặc giữ nước thời Hùng Vương thứ 6 là Khai Nguyên từ xưa đã được suy tôn làm thành hoàng. Ngài còn trị nạn hồng thủy, đem lại bình yên, hạnh phúc cho dân lành, nên được các đời vua sau ban 12 đạo sắc phong với 12 chữ “Cứu nước, cứu dân, âm phù, dương trợ, dân tình yên ổn”.

Làng Phú Gia còn có nhiều điểm di tích lịch sử khác như cơ sở bí mật in báo “Cờ Giải Phóng” tại nhà bà Hai Vẽ. Ngày 23-8-1945 Hồ Chủ tịch lần đầu tiên đặt chân lên bến đò dưới gốc cây gạo ven đê sông Hồng rồi đến nhà ông Công Ngọc Kha (Trần Lộc) và ở lại đó tới chiều 25-8 thì được các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Võ Nguyên Giáp đón vào nội thành Hà Nội, chuẩn bị viết bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận

  • Chùa Chèm: 102 ngõ 351 Thụy Phương, phường Thụy Phương.
  • Chùa Vẽ: ngõ 163 Đông Ngạc, phường Thụy Phương.
  • Đình Chèm: 301 phố Thụy Phương, phường Thụy Phương.
  • Đình Nhật Tảo: cuối đường An Dương Vương, phường Nhật Tảo.
  • Đình Nhật Tân: 401 Âu Cơ, phường Nhật Tân.
  • Đình Vẽ: 37 Đông Ngạc, phường Thụy Phương.

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCông