Trang nhà > Vườn Thiền > Chùa Hưng Ký

Hung Ky Pagoda

Chùa Hưng Ký

Võ Hưng Thiền Am

Chùa Hưng Ký có từ năm 1932, vốn thuộc phái Lâm Tế. Tên chữ: Võ Hưng Thiền Am. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1996). Vị trí: ngõ Chùa Hưng Ký, XVV3+QW, P. Minh Khai, Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội. Cách Hồ Gươm: 5km về hướng nam. Trạm bus lân cận: đoạn giữa phố Minh Khai (xe 19, 24, 38, 52)

Cổng chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Lược sử

Chùa mang thương hiệu của ông Trần Văn Thành, chù doanh nghiệp gạch ngói Hưng Ký. Ông đã đầu tư xây chùa trên địa phận thôn Đoài của làng Hoàng Mai. Công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo này được bắt đầu từ cuối triều Nguyễn vào năm Bảo Đại thứ tám (1932). Ông Hưng Ký ngày ấy rất nổi tiếng về gia sản và cũng là một tín đồ lớn của Phật giáo.

Cổng bên chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Chùa thờ Phật theo Thiền phái Lâm Tế và là một trong những tự viện có cùng chốn Tổ ở chùa Đào Nguyên (Gia Lâm). Các hạng mục đã xây dựng bao gồm: tam quan, tòa Phật điện, nhà Tổ, nhà bia, Trai đường, bên cạnh còn có đình thờ Tam Thánh và ngôi đền Mai Sau [1], tất cả đến nay vẫn được bảo tồn hầu như nguyên vẹn. Cụm di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc - nghệ thuật quốc gia tại quyết định số 301/QĐ-BVHTT ngày 13-2-1996.

Sân trước chùa Hưng Ký. Panorama NCCong ©2014

Kiến trúc

Khuôn viên chùa rộng khoảng 3000m2, các công trình kiến trúc chính đều được trang hoàng bởi những bức cuốn bằng gốm sứ, hoa văn tạo tác tinh xảo, trải qua hàng trăm năm vẫn còn bóng màu men. Đáng tiếc nhiều nhà dân đã áp sát xung quanh làm cho du khách đứng từ bên ngoài rất khó chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của ngôi chùa.

Tam quan chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Tam quan cao 3 tầng, tầng thứ hai treo một quả chuông lớn, tầng dưới cùng có 3 cửa mang tên Giả quan, Trung quan và Không quan. Bốn cột đồng trụ đỉnh có chạm chim phượng, lồng đèn và đắp tứ linh. Cổng chính gồm tứ trụ nối với tam quan tạo nên thế nguy nga, vững chãi. Hai mặt ngoài cổng phụ có đắp phù điêu hình voi ngựa, tám góc mái chạm hình rồng chầu nguyệt. Các mặt trụ đều có câu đối chữ Hán hoặc chữ Nôm bằng sứ tráng men màu.

Sân chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Sau tam quan có một bức tượng Quán thế âm Bồ tát mới dựng cạnh giả sơn. Sân trước trồng nhiều cây, hai bên là hai ngôi tháp mộ khá cao. Tòa tam bảo xây dạng chữ “Đinh”, tiền đường chia làm 7 gian gồm 12 cột cái, mỗi cột cao 7m, cạnh vuông 30cm. Mái chùa chính có 4 lớp, lợp ngói ống, đầu gắn chữ "Thọ". Trên nóc mái, ở chính giữa có gắn biểu tượng một chiếc nậm đựng nước cam lồ.

Tiền đường chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Di sản

Trên chính điện của chùa Hưng Ký bày 3 pho tượng đồ sộ: tượng Phật A Di Đà cao 3,86m làm bằng gỗ phủ sơn, tượng Phật Di Lặc và tượng Phật Thích Ca đản sinh cũng bằng gỗ sơn. Trong hai gian đầu hồi toà Tam bảo còn có hai tòa Thập điện Diêm vương được cấu trúc theo kiểu động, miêu tả chân thực cảnh sống nơi trần gian và ngục tối.

Sân sau chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Chùa Hưng Ký khác phần lớn ngôi chùa khác ở chỗ thờ bộ tượng A Di Đà tam tôn với Phật A Di Đà ở giữa, hai bên là các Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Theo tín ngưỡng, những vị này có thể cứu vớt chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi để trở về cõi Tây Phương cực lạc, hướng mà cửa chùa mở về. Ngoài ra còn có 8 bức tranh vẽ và nhiều pho tượng nhỏ khác, thể hiện các cảnh đời của đức Phật Thích Ca.

Nhà Tổ chùa Hưng Ký. Ảnh NCCong ©2014

Mái chùa được làm từ ngói ống cùng với các tượng sứ nhiều màu ghép lại trên các diềm mái, diễn tả các sự tích nhà Phật và sự vất vả tìm về chốn Tổ linh thiêng của các tín đồ. Bộ vì kèo trong chùa Hưng Ký được làm bằng granitô giả đá kết hợp với các mảnh sứ ốp tường có nhiều màu sắc. Nhà bia là một phương đình được trang trí cả bốn mặt với các bức tượng nghê, sấu và các phù điêu tinh tế cũng bằng gốm sứ.

Việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa các vật liệu xây dựng hiện đại với phong cách nghệ thuật cổ truyền của dân tộc đã tạo ra một ngôi chùa độc đáo trong lịch sử kiến trúc Phật giáo Việt Nam.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1Ngụ ý lâu bền, ghép tên làng Mai với tên vợ bé của ông Hưng Ký là bà Sau, người làng này