Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Đền miếu > Miếu Gàn

Gan Temple

Miếu Gàn

Temple Gan

Thứ Ba 24, Tháng Ba 2015

Miếu Gàn tương truyền có từ thế kỷ 14. Thờ: Thuỷ thần Bảo Ninh Vương. Lễ hội: 16 tháng Tám âm lịch. Xếp hạng: Di tích lịch sử - kiến trúc - nghệ thuật quốc gia (1993). Địa chỉ: 89 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội. Toạ độ: 20°57’35"N 105°49’50"E. Cách Hồ Gươm: chừng 10km về hướng nam. Điểm dừng bus lân cận: Đd tòa nhà HUD3 - CT3 (xe 104), Đd BX Nước Ngầm (xe 03b, 04, 06, 08, 12, 21b, 48, 60b, 94, 99, 101)

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Sân tiền tế miếu Gàn. Ảnh ©2014 NCCong

Miếu Gàn còn gọi là đền Hiển Khánh và Xá Càn[1]. Bức đại tự treo ở gian giữa đại bái đình Linh Đàm có hàng chữ “Tối linh từ” (đền tối linh). Theo văn bia “Phụng sự hậu thần bi ký” thì đình vốn là đền thờ, đến năm Chính Hoà thứ 9 (1688) có vương phủ thị nội cung tần Trần Thị Ngọc Tể đã đặt ruộng 4 mẫu 1 sào 2 miếng 2 thước cùng 600 quan tiền cổ vào thôn Linh Đàm và 4 mẫu 5 sào cùng 300 quan tiền cổ vào thôn Đại Từ xin làm hậu thần, hậu Phật để dân làng hai thôn kỵ giỗ cho bố mẹ của bà. Nhờ số ruộng tiền trên, hai thôn phát canh thu tô để hàng năm tiến hành các lễ tiết và tu sửa đền, chùa trong xã.

Cổng phụ miếu Gàn. Ảnh ©2014 NCCong

Sự tích miếu Gàn gắn với chuyện “Chằm Lân Đàm” trong sách “Lĩnh Nam chích quái” được cải biên và đưa vào cuốn thần phả do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1572. Theo đó tại ngôi trường Huỳnh Cung của Chu Văn An có một chàng trai khác người đến xin làm học trò. Thầy nhận lời, sau thấy anh ta học giỏi lại chăm chỉ bèn để tâm tìm hiểu. Một buổi sớm tinh mơ chợt bắt gặp chàng từ dưới nước đi lên, Chu Văn An đoán là thủy thần. Rồi bỗng nhiên gặp đại hạn, khắp nơi lập đàn cầu đảo mà không ứng nghiệm. Chu Văn An thương dân đành phải nhờ chàng. Lúc đầu anh thoái thác, sau quá nể thầy mới nhận lời giúp và nói thật rằng mình sẽ bị trời phạt. Chàng liền từ biệt và quả nhiên đêm đó mưa to. Ruộng đầy nước thì một tiếng sét nổ ầm, mưa tạnh ngay. Sáng ra dân vớt được xác một con thuồng luồng nổi lên ở Đầm Mực. Thầy nghĩ rằng chàng đã hy sinh nên cùng dân làm lễ an táng trọng thể rồi lập đền thờ.

Từ khi có ngôi Miếu Gàn, các triều đại phong kiến đều liên tiếp phong thần cho Bảo Ninh Vương và ban đạo sắc để làng thờ làm thành hoàng. Sau 1954 việc tổ chức rước lễ và tế hàng tổng vào ngày 16 tháng Tám âm lịch bị gián đoạn. Dân thôn Linh Đàm tổ chức hội làng truyền thống vào ngày mồng 10 tháng Hai. Ngày 11-9-1993 Bộ Văn hóa và Thông tin đã xếp hạng miếu Gàn là Di tích lịch sử - kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.

Toàn cảnh miếu Gàn. Panorama ©2014 NCCong

Tam quan miếu Gàn. Ảnh ©2014 NCCong

Kiến trúc

Miếu Gàn có truyền thuyết từ cuối thế kỷ 14, còn đình Linh Đàm được xây khoảng cuối TK17 trên một khu đất rộng rãi, cao ráo ở giữa cánh đồng thôn Bằng Liệt, thuộc xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì; nay đang bị đô thị hoá. Trải qua nhiều lần trùng tu, di tích chủ yếu mang phong cách nghệ thuật kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn. Mặt miếu nhìn về phía đông-bắc nhưng cổng mới xây thì mở ra phố Linh Đường. Tam quan gồm ba cửa đều có mái lợp ngói ta với các đầu đao cong vút.

Mặt bên miếu Gàn. Ảnh ©2014 NCCong

Sau tam quan có chiếc cầu đá bắc qua lạch nước nhỏ và dẫn du khách vào một sân gạch rộng. Bên trái sân có một nhà bia, xa hơn là nhà sắc 3 gian có cổng phụ cũng mở ra phố Linh Đường. Miếu Gàn nằm ngay phía trước sân nhưng sườn quay ra tam quan, còn mặt hướng về hồ Linh Đàm. Miếu cách ly ao sen bởi một bức bình phong với 4 trụ biểu, khoảng giữa là sân gạch nhỏ hơn, có hai cây muỗm cổ thụ che mát. Phía bên trái miếu còn có một sân nhỏ và khu thờ phụ mới xây.

Toà tiền tế rộng 3 gian 2 dĩ, được kết nối với toà thiêu hương và hậu cung theo hình chữ “Công”. Nhà lợp ngói ta, ở hai đầu hồi đắp nổi hình mặt hổ phù. Phía trước là hệ thống các cửa bức bàn bằng gỗ. Sát hai bên đầu hồi về phía trước là hai cột trụ biểu xây gạch cao to có hình hai con nghê đắp nổi trên đỉnh hướng mặt vào nhau. Bộ khung nhà tiền tế có kết cấu vững chắc và các cốn được chạm trổ công phu. Hai cốn phía ngoài chạm nổi hình long, li, quy, phượng và hình vân mây. Hai cốn bên trong chạm nổi hình đầu rồng. Ngoài ra, trên 4 đầu dư của hai vì kèo gian giữa được chạm thủng kết hợp với chạm lộng thành hình đầu rồng. Đầu rồng có miệng há to, ngậm viên ngọc tròn, râu xoắn, mắt lồi, bờm uốn thành hình đao mác. Tất cả những hình chạm khắc gỗ nhà tiền tế là những tác phẩm nghệ thuật đẹp mang phong cách nghệ thuật dân gian TK 18-19.

Sân miếu Gàn. Panorama ©2014 NCCong

Di vật

Toà miếu tuy không thật lớn nhưng bên trong có nhiều mảng chạm khắc đẹp mang dấu ấn của nghệ thuật các thời Lê-Nguyễn. Ngoài ra, hiện còn giữ được một bộ sưu tập cổ vật quý gồm: hương án từ thế kỷ 18, khám thờ bằng gỗ chạm lộng sơn son thếp vàng, bộ long ngai bài vị, 2 bát hương bằng đá, 5 bức hoành phi, 10 câu đối bằng gỗ... từ thế kỷ 19.

Hồ sen bên miếu Gàn. Ảnh ©2014 NCCong

Trong miếu có đôi câu đối ca ngợi thuỷ thần và Chu Văn An:
Nghiên tự đằng vân, thánh vực hé niên xưng đế tử
Đàm do lưu mặc, thần công thiên cổ thụ sư môn

Dịch nghĩa:
Mây từ nghiên bay lên, đất thánh ngàn năm, con vua xuất hiện
Đầm còn mực lan chảy, công thần muôn thuở, thầy dạy lừng danh.

Lại có đôi câu đối khác:
Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút mực hồi thiên tự thuận
Chu đình lưu hoá vũ, thiên trù vọng khiếp địa phần khô

Tạm dịch:
Mây lành bay lên từ nghiên mực, một bút đòi trời theo lẽ phải
Mưa đen đổ xuống giữa sân hồng, nghìn ruộng nẻ đất trổ mùa hoa

Một trong những di vật có giá trị nhất ở miếu Gàn là tấm bia đá có tên “Thanh Bằng Thịnh Sự Bi” (Bia ghi việc tốt của Bằng Liệt) dựng ngày 18 tháng 2 năm Cảnh Hưng 45 (1748). Nội dung tấm bia có thể tóm tắt như sau: "các vị trong hội tư văn lễ giáp văn huyện... cùng toàn thể quan chức trong hội tư văn xã Bằng Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín từng nghe vị tiên hiền ở bản xã họ Bùi tự Quốc Khái, thi Đình khoa Ất Tị thời Lý Anh Tông. Đỗ ba người, ông là người thứ hai, làm quan đến Đô Ngự sử, hiện mộ còn ở ruộng chùa xứ Trong Đồng, dân làng còn được thừa hưởng tiếng thơm mà vẫn ngưỡng vọng như Thái Sơn, Bắc Đẩu. Bởi lẽ đó mà hội tư văn mua một khu đất ở xứ Ngõ Vĩnh Phúc xây một ngôi từ chỉ để mãi mãi làm nơi thờ cúng vào Trung Xuân (tháng Hai) và Trung Thu (tháng Tám)".

Bên trong miếu Gàn. Ảnh ©2014 NCCong

Di tích lân cận

Chú thích

[1] Theo một số nghiên cứu thì Gàn chính là Kan hay Ikan. Trong tiếng nói của người Chăm ở miền Nam Trung Bộ nước ta và tiếng Mã Lai, Kan hay Ikan có nghĩa là cá. Yếu tố Mã Lai in rất đậm nét trong văn hoá Đông Sơn (thời kì các vua Hùng) cách đây hơn 2000 năm. Tên Xá Càn là hai từ ghép ra đời muộn hơn. Chữ Xá trong tiếng Hán có nghĩa là khách, quán, ở nhà. Còn chữ Càn cũng như chữ Gàn trong tiếng Việt cổ có nghĩa là cá. Như vậy có thể cho rằng Miếu Gàn có gốc tích từ khoảng đầu công nguyên, khi dân nơi đây chưa chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc và còn theo tín ngưỡng thờ thuỷ thần.


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?