Trang nhà > Đình làng > Đình Thổ Khối

Tho Khoi Village Hall

Đình Thổ Khối

Maison communale de Tho Khoi

Đình Thổ Khối có từ trước năm 1730. Thờ: 6 vị thành hoàng. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1990). Địa chỉ: Điếm Cự Khối - ĐT378, 2W54+87 Cự Khối, Long Biên, Hà Nội, Việt Nam. Toạ độ: 21°00’32"N 105°54’22"E. Cách Hồ Gươm: 10km về phía đông-nam. Điểm dừng bus lân cận: Đd điếm Cự Khối (xe 47A)

Trước đình Thổ Khối. Photo NCCong ©2014

Lược sử

Thời Nguyễn, Thổ Khối thuộc tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (từ năm 1831 trở đi là tỉnh Bắc Ninh). Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi về thời Trần: "Tháng Bảy mùa thu (năm 1352) có thủy tai lớn. Nước lên to, vỡ đê Bát [Tràng, Cự] Khối, lúa má bị ngập; Khoái Châu, Hồng Châu và phủ Thuận An bị thiệt hại hơn cả". Nếu đúng vậy thì [Cự] Khối là địa danh rất cổ của một vùng trồng lúa có từ trước đây ít nhất 7 thế kỷ. Hiện nay đoạn đường 5km dưới chân đê sông Hồng từ Tư Đình đến cầu Thanh Trì được mang tên Bát Khối.

Năm 1956, tổng Cự Linh được chia thành hai xã Cự Khối, Thạch Bàn. Xã Cự Khối gồm hai thôn Thổ Khối, Xuân Đỗ. Ngày 20-4-1961, xã Cự Khối cùng các xã khác trong huyện Gia Lâm được chuyển từ tỉnh Bắc Ninh về TP Hà Nội. Ngày 6-11-2003, xã Cự Khối trở thành phường Cự Khối, thuộc quận Long Biên mới thành lập. Phường này gồm 13 tổ dân phố, trong đó 7 tổ nằm trên đất làng Thổ Khối xưa. Về mặt hành chính, tên Thổ Khối không còn nữa.

Bài vị các thành hoàng đình Thổ Khối. Photo NCCong ©2019

Đình Thổ Khối có từ lâu đời, muộn nhất cũng trước năm 1730 nếu căn cứ vào di vật cổ nhất còn lại trong cung cấm là bản sắc phong ghi niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 2 thời Lê Trung hưng. Đình thờ 6 vị thành hoàng làng gồm: Bố Cái đại vương, Cao Sơn đại vương, Linh Lang đại vương, Bạch Đa đại vương, Dị Mệ đại vương và Đào thành hoàng.

Bố Cái đại vương là anh hùng dân tộc Phùng Hưng quê Đường Lâm, người đã lãnh đạo quân ta đánh đổ ách đô hộ nhà Đường ở thế kỷ VIII (kiêng danh Ngài nên dân làng gọi bố là thầy). Cao Sơn đại vương là con của Lạc Long Quân và bộ tướng của Tản Viên sơn thánh. Linh Lang đại vương là tướng nhà Lý có công phá quân Tống sang xâm lược. Ba vị nói trên được thờ ở nhiều nơi. Còn Bạch Đa và Dị Mệ đại vương là hai vị thổ quan thường nghỉ lại ở Thổ Khối mỗi khi từ miền núi về kinh đô vào triều, do đó trong cỗ cúng kiêng dùng gà trắng.

Sân đình Thổ Khối. Panorama NCCong ©2014

Tục truyền vào thời Lê có một người họ Đào tên Duy Trinh, làm nghề chài lưới ở huyện Tống Sơn, phủ Thanh Hoa đến vùng bãi bồi này lập thành ấp Vạn Thổ sinh sống. Ngài có công giúp vua thoát nạn, sau đó được phép kiểm soát thuyền bè qua lại nơi đây. Sau khi ngài mất, dân làng thờ làm thành hoàng đầu tiên và được triều đình phong sắc.

Đình đã qua nhiều lần trùng tu, các tấm bia đá tại đây cho biết đó là những năm Cảnh Hưng 46 (1785), Minh Mệnh 3 (1822), Minh Mệnh 18 (1837). Năm Quý Mùi (1833) sửa chữa đại đình, năm Bính Tuất (1886) tôn tạo hậu cung. Ngày 09-01-1990, Bộ Văn hóa - Thông tin đã xếp hạng đình Thổ Khối là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Bước sang thế kỷ XXI, đình lại được đại trùng tu.

Đền Xuân Dung phu nhân và nhà bia đình Thổ Khối. Photo NCCong ©2014

Lễ hội

Dân làng Thổ Khối tổ chức lễ hội mùa xuân theo truyền thống vào 3 ngày 8, 9, 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, mồng 9 là chính hội. Mở đầu hội là lễ rước nước từ giữa sông Hồng về đình, trên đoạn đường gần 2km. Làng có 6 giáp nên mỗi năm các giáp phải xin âm dương để xác định giáp nào được đảm nhận vinh dự này. Xưa kia cứ 3 năm thì mở hội lớn một kỳ, nay 5 năm một lần.

Kiến trúc

Đình Thổ Khối được xây trên một khuôn viên rộng lớn có nhiều cây lưu niên. Mặt đình nhìn ra sông Hồng ở hướng tây qua một hồ bán nguyệt, xưa kia hồ cung cấp nước cho cả làng, dân không có giếng riêng. Sân đình rất rộng với 2 dãy tả hữu vu hai bên. Phía bắc có nhà bia và đền Xuân Dung phu nhân, ở giữa là cổng cho ô tô ra vào. Phía nam có bậc thang rộng đi lên mặt đê, dưới sườn đê bên kia đường ĐT378 là ngôi chùa làng Thổ Khối, tên chữ Sùng Phúc Tự.

Đại đình Thổ Khối. Photo NCCong ©2014

Đình Thổ Khối hiện nay là một kiến trúc khá đồ sộ gồm các dãy nhà nằm song song và nối với nhau bằng ống muống. Tòa tiền tế rộng 7 gian, xây 2 tầng. Tòa đại đình 5 gian 2 chái, cung ngoài 3 gian, hậu cung 3 gian. Trang trí trên kiến trúc và di vật ở trong đình rất phong phú, đặc biệt tại hậu cung còn giữ được nhiều sắc phong của các triều đại từ thời Lê trung hưng đến thời Nguyễn, sắc cổ nhất ghi niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 2 (1730). Tấm bia có niên đại Cảnh Hưng thứ 46 đặt tại bên trái trung đường cho biết ngôi đình đã được tu sửa vào năm 1785.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCông