Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Đình làng > Đình Tự Nhiên

Tu Nhien village hall

Đình Tự Nhiên

Chủ Nhật 25, Tháng Mười Một 2018

Đình làng Tự Nhiên xây năm 1702, trong thờ 4 vị thành hoàng: thánh Chử Đồng Tử, công chúa Tiên Dung, công chúa Hồng Vân, và tướng Đào Thành của Hai Bà Trưng. Xếp hạng: Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia (năm 1988). Địa chỉ: xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, TP Hà Nội. Tọa độ: 20°51’49"N 105°55’5"E; cách Hồ Gươm hơn 25km về hướng nam. Điểm dừng bus lân cận: bến Hồng Vân, tỉnh lộ ĐT427 (xe 06b)

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Làng Tự Nhiên xưa kia gọi là làng Gòi, ở trên một cù lao sông Hồng thuộc tổng Vĩnh Hưng, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Việc quản lý gặp nhiều khó khăn do làng bị ngăn cách bởi dòng chảy chính, nhất là trong mùa mưa lũ. Đến đầu thế kỷ 19, vua Gia Long quyết định cho nhập vào phủ Chương Dương, huyện Thượng Phúc, trấn Sơn Nam Thượng. Tháng 1-1971 xã Hồng Châu đổi tên thành xã Tự Nhiên, thuộc huyện Thường Tín, tp. Hà Nội.

Bãi Tự Nhiên là nơi lần đầu công chúa Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử và bén duyên. Bên kia sông là đất Hưng Yên với đầm Dạ Trạch ghi dấu truyền thuyết về toà thành một đêm của vợ chồng họ. Đầm còn làm căn cứ chống nhà Lương của Triệu Quang Phục và chống Pháp của Nguyễn Thiện Thuật. Nhờ sông to và phù sa màu mỡ, nghề cá và nghề nông ở Tự Nhiên phát đạt, sau có thêm nghề vận tải, chế biến gỗ và khai thác cát. Dân cư đông dần theo thời gian nên tách làm ba thôn: Thượng, Hạ, Thủy Cơ.

Du khách từ trung tâm Hà Nội có thể xuống bến xe Giáp Bát rồi lên bus số 06b đi thẳng đến bến cuối Hồng Vân trên tỉnh lộ ĐT427, sau đó đi tiếp về phía đê sông Hồng sẽ nhìn thấy một cái cổng rất to đề rõ tên làng. Cách cổng làng khoảng 400m là đình Hạ và đình Thượng nằm cạnh nhau. Đình Thủy Cơ nằm ở cuối làng do ngư dân xây dựng vào năm 1862. Năm 1947 đình bị giải hạ theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến.

Trước cổng đình Tự Nhiên. Photo (c) NCCong 2018 April

Kiến trúc

Đình Hạ và đình Thượng xây năm 1702, tới năm 1739 chuyển lên nơi cao ráo để tránh lụt lội. Hậu cung được thực hiện vào cuối thời Nguyễn. Hai ngôi đình từng được trùng tu nhiều lần. Ngày nay cả hai đình đang dùng chung sân giữa và tường bao, làm thành một khuôn viên thông thoáng và vuông vắn. Phía trước lại có hai ao đình, tượng trưng cho đôi mắt rồng, nằm ở hai bên con ngõ rộng dẫn đến cổng chung nhìn về hướng Tây.

Đình Hạ gồm đại bái, trung cung, hậu cung. Đại bái 3 gian 2 dĩ, trong có các mảng chạm nổi hình người cưỡi voi và đô vật; lại có các bức cốn dài 1m2, cao 1m6, chạm khắc đề tài "rốn rồng" với tích “rồng mẫu tử”. Trung cung được xây theo kiểu phương đình 2 tầng 8 mái với 4 đầu đao cong vút. Cổ diềm có các chấn song con tiện để lấy ánh sáng. Trong chính điện có bức cửa võng 5 tầng giữa lối vào hậu cung. Hậu cung chồng diềm 2 tầng 4 mái, bên trong đặt ba cỗ long ngai. Tay ngai chạm rồng với đủ chân, thân và đầu đối xứng chầu vào long ngai.

Đình Thượng gồm đại bái, thiêu hương, hậu cung. Đại bái 3 gian 2 dĩ, các mái ngói ta đè nặng trên bốn hàng chân gỗ và vì nóc theo kiểu chữ Đinh, một vì đã được sửa khi dời đình từ giáp bờ sông vào vị trí ngày nay. Tại đây có các mảng chạm khắc theo tích “Độc long”. Hậu cung chia làm hai, một bên thờ Đức thánh Chử và nhị vị phu nhân Tiên Dung, Hồng Vân (Tây Sa), một bên thờ tướng Đào Thành của Hai Bà Trưng. Thanh gươm của thánh Chử đặt trước bàn thờ Ngài.

Di sản

Trong hậu cung của đình Hạ và đình Thượng đều đặt bài vị thờ 4 đức thành hoàng. Đình Hạ hiện lưu giữ được 66 đạo sắc phong, đình Thượng có 69 đạo sắc phong, 6 cỗ kiệu bát cống, một đầu sư tử tạo tác vào khoảng giữa thế kỷ 20. Nghi thức chủ yếu của hội đình là lễ Long Ngư với đám rước nước vào ngày mồng Một tháng Tư. Trước đó, người dân đã chọn gạo cẩn thận và ngâm để giã bánh dày rồi bày lên mâm lễ vật.

Làng có tục kiêng viết, nói, dùng tên Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Chẳng hạn chỉ có 2 đội múa rồng, không có múa sư tử, “Dung” gọi là “dong”. Đình còn giữ 6 chén ngọc cổ dùng dâng Thánh ngự uống nước. Khi rước thì kiệu bà Hồng Vân đi trước. Khi đi làm ngoài đồng, bãi không được “chống đòn càn xuống đất, chụp nón trên gậy”. Khi vào đình phải bỏ nón, mũ, không dùng quần áo ngắn...

Ngày 16-11-1988 Bộ Văn hoá - Thông tin đã xếp hạng đình Hạ là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Đình Thượng được công nhận tương tự nhưng muộn hơn vào ngày 30-12-2002. Năm 2018, huyện Thường Tín đệ trình Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định xếp hạng “Di tích quốc gia đặc biệt đình Tự Nhiên” (gồm: đình Hạ, đình Thượng và khu “Bãi tắm nàng tiên”).

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?