Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Đình làng > Đình Hoàng Cầu

Hoang Cau Community Hall

Đình Hoàng Cầu

Maison communale de Hoang Cau

Chủ Nhật 6, Tháng Giêng 2019

Đình Hoàng Cầu có từ cuối thế kỷ 18 thời Hậu Lê, thờ Bố Cái đại vương Phùng Hưng. Xếp hạng: Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia (năm 2016). Địa chỉ: 38 Nguyễn Phúc Lai, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, TP Hà Nội. Toạ độ: 21°1’16"N 105°49’18"E; cách Hồ Gươm gần 5km về phía tây-nam. Điểm dừng bus lân cận: 426 và 339 Đê La Thành (xe 23, 28, 49) hoặc 4a Láng Hạ (xe 18)

Bản đồ trực tuyến

̣(GoogleMaps ghi là đình Hoàng Lạc)

Giới thiệu

Đình Hoàng Cầu có từ cuối thời Hậu Lê và đến nay đã được sửa chữa, tôn tạo nhiều lần, đáng kể là đợt đại trùng tu năm 1953. Bài vị và các sắc phong còn lưu trong hậu cung cho biết đình thờ Vua Phùng Hưng, anh hùng dân tộc ở thế kỷ 8. Hàng năm dân làng tổ chức tại đây hai kỳ lễ lớn vào ngày khởi nghĩa (11-12 tháng Hai ÂL) và ngày hoá (11-12 tháng Tám ÂL) của Ngài.

Trong sách 粵 甸 幽 靈 集 Việt điện u linh tập in năm Khai Hựu nguyên niên (1329) Lý Tế Xuyên đã dựa vào ghi chép của người xưa để viết chuyện về Bố Cái đại vương Phùng Hưng. [1]. Trong đình còn thờ Phùng An và Bảo Hoa công chúa, ngoài ra lại phối thờ hai vị thần Cao Sơn và Bạch Mã. Năm 2016 đình đã được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.

Đình Hoàng Cầu. Panorama (c) NCCong 2019 Jan.

Kiến trúc

Tam quan mới của đình Hoàng Cầu nhìn về hướng đông-nam và mở ra phố Nguyễn Phúc Lai. Đó là một nghi môn hoành tráng với các trụ biểu có đắp câu đối chữ Hán. Hai cổng bên được xây theo kiểu 2 tầng 8 mái lợp ngói ống giả, đưa khách vào sân ngay cạnh một phương đình lớn với 2 tầng 8 mái và 16 cây cột tròn có treo nhiều câu đối. Nghi môn cũ quay về hướng tây-nam đã bị mất, phía đó chỉ còn một ao tròn khá to và cây cối um tùm.

Phương đình nhìn qua sân ra ao. Toà tiền tế xây 3 gian, tường hồi bít đốc, bên trong có nhiều đồ thờ cổ với hoành phi và câu đối chữ Hán được sơn son thếp vàng rực rỡ; trên bờ nóc đắp hình lưỡng long triều nguyệt. Toà hậu cung xây cao hơn, gồm 3 gian 4 mái, nối liền với tiền tế theo hình chữ "Nhị". Mé phải sân trước có hai tấm bia đá, một cổ, một mới. Mé trái sân có hai miếu nhỏ bày tượng thờ Mẫu...

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1“Vương họ Phùng, huý là Hưng, ông và cha của Vương đều nối đời làm tù trưởng của đất Đường Lâm. Chức tù trưởng bấy giờ gọi là Quan Lang. Tục gọi như thế, hiện nay ở mạn ngược vẫn còn. Vương con nhà giàu nhưng hay giúp đỡ kẻ nghèo, đã thế, Vương lại khoẻ mạnh, có thể đánh được hổ, vật được trâu. Em Vương là Phùng Hải cũng có sức mang nổi ngàn cân, cõng được thuyền chứa ngàn hộc mà làng, tên là Đỗ Anh Luân, đem đại binh đi tuần thú khắp các châu Đường Lâm và Trường Phong, uy danh lừng lẫy, khiến ai cũng phải theo phục. Vương cho phao tin rằng sẽ đánh Đô hộ phủ. Quan đô hộ của nhà Đường là Cao Chính Bình đem quân đi đánh, bị thua, sợ quá phát bệnh mà chết. Vương vào phủ, nắm quyền trị dân được bảy năm thì mất.

Bấy giờ, nhiều người muốn lập em của Vương là Phùng Hải lên thay, nhưng quan Đầu Mục có sức khoẻ lạ thường là Bồ Phá Cần lại quyết chí không cho, bắt phải lập con Vương là Phùng An. Phùng An lên nối ngôi, bèn đem quân đánh Phùng Hải. Phùng Hải sợ Bồ Phá Cần nên lánh vào động Chu Nham, sau không biết là đi về đâu.

Phùng An tôn Vương làm Bố Cái Đại Vương. Nước ta gọi cha là Bố, gọi mẹ là Cái nên Phùng An mới tôn Vương làm Bố Cái Đại Vương như vậy. Hai năm sau đó, vua Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm đô hộ nước ta. Triệu Xương tới nơi, trước hết, cho sứ giả mang lễ vật đến dụ dỗ Phùng An. Phùng An xin hàng phục. Từ đó, họ Phùng tản mác mỗi người một nơi.

Sau khi mất, Bố Cái Đại Vương rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa.

Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ Vương ở phía tây của Đô hộ phủ. Đền thờ Vương rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt.đi luôn mười dặm. Gần xa nghe tiếng đều lấy làm sợ. Thời niên hiệu Đại Lịch của nhà Đường, nước ta rối loạn, Vương cùng em đem binh đi chinh phục khắp các vùng ở lân cận. Vương đổi tên là Cự Lão và xưng là Đô Quân, còn em Vương thì đổi tên là Cự Lực và xưng là Đô Bảo, anh em cùng nhau làm theo kế sách của một người cùng

Khi Ngô Tiên Chủ (tức Ngô Quyền) dựng nước, bọn giặc Nam Hán sang cướp nước ta. Ngô Tiên Chủ ngày đêm lo nghĩ tìm cách chống đánh. Thế rồi một đêm, Ngô Tiên Chủ nằm mơ, thấy có một cụ già áo mũ chỉnh tề, đến nói rõ họ tên của mình và bảo rằng:
— Tôi đã trù tính, sắp sẵn các đội thần binh để giúp sức nhà vua, xin nhà vua hãy gấp tiến binh, đừng lo nghĩ gì cả.

Đến khi Ngô Tiên Chủ ra đánh giặc ở sông Bạch Đằng, nghe trên không có tiếng binh mã ầm ầm, và quả nhiên trận ấy được đại thắng. Ngô Tiên Chủ lấy làm lạ, liền sai sửa sang ngôi đền, khiến cho đền rộng rãi và lịch sự hơn xưa. Xong, Ngô Tiên Chủ thân đem các thứ lễ vật cùng cờ quạt chiêng trống đến để tế lễ. Sau, các triều quen dần thành lệ. Thời Trần, vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), nhà vua sắc phong là Phù Hựu Đại Vương. Năm Trùng Hưng thứ tư lại gia phong thêm hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20 (tức năm 1312) vua Trần Anh Tông gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa nữa. Đến nay, sự linh thiêng vẫn được sùng phụng như xưa”

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?