Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Hỗ trợ > Khảo cứu > Phường, phố và tên phố Hà Nội (1)

Ha Noi wards, streets and theirs names

Phường, phố và tên phố Hà Nội (1)

Quartiers, rues de Ha Noi et leurs noms

Thứ Bảy 12, Tháng Giêng 2019

Phần đầu này nêu vắn tắt tình hình phố phường Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Phần sau sẽ đưa lên một bức tranh lớn hơn và gần gũi với thực tại.

Năm 1954, nội thành Hà Nội chỉ gồm hơn 300 phố. Từ khi Hà Tây hợp nhất vào Thủ đô và nội thành được mở rộng về 4 hướng, nhiều phố mới hình thành, hiện tại riêng nội thành đã có gần 900 phố. Tìm hiểu các phường, phố và việc đặt tên thấy nhiều chuyện vui buồn nhưng đó cũng là một phần của lịch sử.

Hà Nội 1873. Phạm Đình Bách vẽ

Từ phường đến phố

Thăng Long thời Lý có thị bên cạnh thành. Thị là nơi dân chúng sinh sống, trong đó có các hoạt động thương mại còn thành là nơi ở và làm việc của vua quan, tuy nhiên thời nhà Lý chưa có phố. Phường là đơn vị hành chính tương đương với làng. Đến thời Trần, Thăng Long được chia làm 64 phường, mỗi phường chuyên một nghề, có phường chuyên trồng rau, phường chuyên trồng hoa, làm giấy, dệt lụa. Nói chung các phường cách xa trung tâm buôn bán của Thăng Long. Đến thời Lê, vào năm 1446, vua Lê Nhân Tông đặt ra phủ Trung Đô gồm 2 huyện là Quảng Đức và Vĩnh Xương. Năm 1469, Lê Thánh Tông đổi phủ Trung Đô thành Phụng Thiên với huyện Quảng Đức (sau đổi ra Vĩnh Thuận) và Vĩnh Xương (sau đổi ra Thọ Xương), mỗi huyện có 18 phường, tổng cộng Thăng Long có 36 phường.

Chính sách cấp đất cho dân ra đời từ đầu thời Lê, đến cuối triều đại này thì công điền bị thu hẹp, tư điền phình ra. Vì các chúa Trịnh đã ban hành những chính sách cởi mở hơn như: Giảm thuế chợ, nới rộng buôn bán và tự do sản xuất thủ công nên các làng nghề ven Thăng Long ào ra kinh đô lập cơ sở. Những chính sách đó đã thúc đẩy kinh tế phát triển, giao thương hàng hóa giữa các vùng với Thăng Long mở rộng. Theo thời gian, Thăng Long dần hình thành những nơi vừa sản xuất vừa bán sản phẩm; đồng thời cũng là nơi nhận đơn đặt hàng theo yêu cầu của các nhà buôn. Việc nhiều người cùng một phường bán các sản phẩm giống nhau ở cùng một địa điểm đã sinh ra câu thành ngữ "Buôn có bạn, bán có phường" chăng?

Theo nhà sử học người Pháp Philippe Papin, tác giả của cuốn "Lịch sử Hà Nội" thì danh từ phố theo chữ Nôm "là nơi mua bán, là khu dân cư tập trung quanh khu vực bến thuyền". Còn theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc thì phố nguyên nghĩa là chỗ bán hàng và phố có thể là một nhà bày bán hàng. Dần dần phố có nghĩa là nơi có nhiều cửa hàng. Cuối thời Lê, Sông Hồng, sông Tô Lịch, cùng các hồ lớn ở phía Đông và phía Nam Thăng Long vẫn thông với nhau bởi các con kênh. Không chỉ là đường giao thông thủy quan trọng mà tại các bến sông, mé sông, mép hồ còn là nơi tập trung dân cư đông đúc, họ vừa sản xuất hàng hóa vừa buôn bán. Ví như Hàng Buồm, Hàng Chĩnh nằm ngay sát Sông Hồng, Hàng Khoai nằm bên sông Tô Lịch. Các vùng miền trên cả nước theo đường sông về Thăng Long bán nguyên liệu, cất hàng mang đi các nơi. Sản xuất và thương mại phát triển nên Thăng Long xuất hiện nhiều phố hơn. Theo nhà truyền giáo Filippo de Marini đến Thăng Long năm 1663 thì ở đầu mỗi phố đều treo một tấm biển gỗ trên đó có ghi tên mặt hàng, danh sách các cửa hàng nên đến và không nên đến. Tên phố do dân chúng đặt ra để tiện cho việc mua bán và không phải là đơn vị hành chính.

Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính lớn, trong đó có việc phân chia và đặt tên mới theo địa giới hành chính cấp tỉnh thì Thăng Long được sáp nhập với một số khu vực khác thành tỉnh Hà Nội với diện tích rộng hơn, gồm 4 phủ, 15 huyện. Trong số 15 huyện của tỉnh Hà Nội thì 2 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận vẫn thuộc phủ Hoài Đức và "36 phố phường" đều nằm trong địa phận hai huyện này. Huyện Thọ Xương có 18 phường, gồm: Yên Thọ, Hà Khẩu, Báo Thiên, Đông Hà, Đồng Xuân, Đông Tác, Đông Các, Cổ Vũ, Xã Đàn, Đồng Lạc, Thái Cực, Diên Hưng, Khúc Phố, Phục Cổ, Phúc Lâm, Kim Hoa, Hồng Mai, An Xá. 18 phường của huyện Vĩnh Thuận là: Bích Câu, Quảng Bá, Thụy Chương, Yên Thái, Hòe Nhai, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Chiêu, Trích Sài, Võng Thị, Bái Ấn, Yên Lãng, Công Bộ, Thạch Khối, Hồ Khẩu, Thịnh Quang, Yên Hoa và Quan Trạm.

Phố ngày càng rộng lớn hơn nên đòi hỏi phải có người trông coi quản lý an ninh trật tự, dàn xếp bất đồng và theo Philippe Papin thì chức trưởng phố xuất hiện từ năm 1850, do dân đặt ra nên không nằm trong ngạch quản lý hành chính của chính quyền. Nhưng dần dà, trưởng phố trở nên quan trọng hơn cả trưởng phường. Cũng theo Philippe Papin, chức trưởng phố có vai trò quan trọng cho đến năm 1954. Nếu người dân ven đô hay các tỉnh về Hà Nội mua nông cụ thì họ cứ đến thẳng phố Hàng Bừa, ai muốn mua mắm thì cứ ra phố Hàng Mắm, ai muốn mua tơ lụa ra phố Hàng Đào.

Trong những ghi chép của nhiều người Pháp từng đến hoặc sống tại Hà Nội giai đoạn 1875 đến 1888 cho thấy, họ sử dụng từ "rue" (tiếng Pháp là đường phố, phố). Tuy nhiên, trong các văn bản của triều Nguyễn lại không nhất quán, sách "Đại Nam nhất thống chí" do quốc sử quán triều Nguyễn (đời Tự Đức) soạn chép là phố và khi đó có 21 phố. Còn trong "Chuyến đi Bắc Kỳ" năm Ất Hợi 1876 của Trương Vĩnh Ký cũng dùng chữ phố và ông bổ sung thêm 2 phố. Song trong bản đồ Hà Nội của sách "Đồng Khánh địa dư chí" soạn vào đời Đồng Khánh lại chép tên 36 phường ở Hà Nội mà không có phố. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Uẩn, tác giả của bộ sách "Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX" thì "phường được sử dụng trong giấy tờ của nhà chức trách còn phố do dân gọi và lâu mà thành và phố vẫn nằm trong phường".

Nhưng "Hà Nội 36 phố phường" là thế nào? Một trong số các bài ca về 36 phố phường được ghi trong sách "Việt Nam thi văn hợp tuyển" của Dương Quảng Hàm có nội dung như sau: "Rủ nhau chơi khắp Long Thành/Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai/Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai/Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay/Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy/Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn/Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang/Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng/Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông/Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè/Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre/Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà/Quanh đi đến phố Hàng Da/Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh/Phồn hoa thứ nhất Long thành/Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ/Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ/Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền". Cho đến hôm nay, khi viết hay nói về Hà Nội người ta vẫn dùng khái niệm "Hà Nội 36 phố phường". Thực ra 36 phường chỉ có trong thời Lê, đến thời vua Tự Đức thì Hà Nội có 153 phường, thôn, trại. 36 là số đẹp nên "Hà Nội 36 phố phường" là cách nói mang tính biểu tượng của Thăng Long - Hà Nội.

Khu phố ta cuối TK 19

Phường và phố cuối thế kỷ XIX

Năm 1802, Nguyễn Ánh chuyển kinh đô vào Huế, hạ cấp Thăng Long thành Bắc Thành rồi Trấn cho đổi Thăng Long (nghĩa rồng bay) thành Thăng Long (nghĩa thịnh vượng). Dù không còn là kinh đô nhưng Thăng Long vẫn là thành phố lớn nhất miền Bắc với "phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ". Thế nhưng từ vua Gia Long đến Minh Mạng đã ra nhiều chính sách về xây dựng đối với Hà Nội, cấm nhà dân trong phố không được xây cao quá kiệu voi, lại đánh thuế môn bài theo diện tích mặt tiền nên nhiều nhà phải chia nhỏ cửa hàng, đây là nguyên nhân sinh ra nhà ống ở Hà Nội.

Khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất năm 1873, dân chúng bỏ nhà cửa chạy loạn, khi trở về thì Hà Nội xuống cấp. Pháp đánh thành lần thứ hai năm 1882, dân chúng lại tan tác, vì thế thành phố đã xác xơ lại xác xơ hơn. Trong một cuốn sách, G.Azambre (giáo viên Trường Albert Sarraut ở Hà Nội) mô tả về phố Hà Nội năm 1875 như sau: "Ngoài những khu phố Tàu thì các nhà Kẻ Chợ là nhà tranh. Kẻ Chợ không tạo ra một thành phố theo đúng nghĩa của từ này. Các phố nằm xen lẫn với đầm hồ tạo thành thôn và có cả đình riêng, nghề riêng". Còn ghi chép của Công sứ Bonnal trong cuốn "Ở Bắc Kỳ, ghi chép và kỷ niệm" (Au Tonkin — notes et souvenirs 1883-1885) về "khu phố cổ" thì: "Phố rất hẹp, họ chỉ lát gạch rộng chừng 1m ở giữa đường và gạch thì bị vỡ hoặc xô lệch. Hai bên là bùn bốc mùi hôi thối vì nước thải không có chỗ tiêu thoát. Mỗi khi có kiệu hay người cưỡi ngựa qua, người đi bộ phải lội xuống bùn lầy để tránh, có chỗ bùn sâu tới 30cm".

Ngày 19-7-1888, Tổng thống Pháp khi đó là Carnot ký sắc lệnh thành lập TP Hà Nội với diện tích 9,4ha (thuộc tỉnh Hà Nội, bao gồm toàn bộ quận Hoàn Kiếm, một phần quận Ba Đình hiện nay) thuộc quyền quản lý của Thống sứ Bắc kỳ do Maire người Pháp làm đốc lý. Hơn 2 tháng sau, ngày 1-10-1888, vua Đồng Khánh bị ép ký chuyển đất Hà Nội thành nhượng địa cho Pháp. Liên tiếp trong các năm 1890, 1891 và 1892, Thống sứ Bắc kỳ Brière đã ra nhiều nghị định trong đó có nghị định cấm làm nhà lá ở một số tuyến phố quanh Hồ Gươm; nghị định đăng công báo ngày 21-4-1890 ấn định chiều dài, chiều rộng, vỉa hè ở các phố và đường, nắn thẳng khi làm mới hay sửa chữa; nghị định ngày 21-9-1891 về thoát nước, mặt tiền, chiều cao, phần nhô ra... cho các phố. Có lẽ khu phố cổ còn lộn xộn và dù có nhiều nhà gạch được xây nhưng đến năm 1897 vẫn còn tới 2.954 nhà lá nên chính quyền chưa đánh số nhà và treo biển tên phố. 

Đại học Đông Dương đầu TK 20 và con phố nay là Lê Thánh Tông

Tên phố qua các thời kỳ

Tên phố Hà Nội thời vua Tự Đức dựa theo tên phường, hoặc nghề thủ công hay phố chuyên buôn bán một mặt hàng. Ví dụ phố Hàng Khảm (nay là Hàng Khay) chuyên làm khảm trai, phố Hàng Bài chuyên sản xuất các quân bài lá, Hàng Bạc chuyên chế tác vàng bạc, Hàng Chĩnh chuyên bán các loại chĩnh hay Hàng Buồm là nơi chuyên bán các loại buồm và các sản phẩm đan bằng cói… Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội thì phố Hà Nội bắt đầu khác vì ngoài xây dựng các công trình hành chính bên phía đông Hồ Gươm thì họ còn quy hoạch lại khu vực phố cổ; đồng thời mở rộng Hà Nội bằng việc xây dựng các phố mới phía nam Hồ Gươm.

Trong nghị định của Thống sức Bắc kỳ đăng công báo ngày 21-4-1890, tên 71 con phố được chính thức công bố với 39 phố bắt đầu bằng chữ Hàng, 10 phố mang tên người Pháp, 2 phố mang tên hai vị vua triều Nguyễn là Gia Long (đầu phố Bà Triệu hiện nay) và Đồng Khánh (nay là Hàng Bài)… Từ văn bản này, tên phố không còn đơn thuần chỉ để gọi như trước, nó đã bao hàm yếu tố chính trị trong đó vì trong 10 người Pháp được đặt tên đều là quan chức nước Pháp, quan chức trong chính quyền bảo hộ, sĩ quan Pháp tham gia đánh chiếm Việt Nam, nói cách khác họ đã dùng tên phố để tôn vinh những người mà họ cho là "có công lao với Chính phủ Pháp trong khai hóa văn minh cho An Nam".

Khi phố Paul Bert (bao gồm phố Tràng Tiền và Hàng Khay ngày nay) khánh thành vào năm 1886, bá hộ Nguyễn Hữu Kim ở làng Vũ Thạch (Hàng Khay hiện nay) đã tặng biển tên phố làm bằng vóc ghi 3 thứ chữ là Pháp, Hán và Việt được khảm bằng trai. Như vậy có thể nói biển treo đầu phố Paul Bert là biển đầu tiên ở Hà Nội.

Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương (bao gồm Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, Campuchia và Lào) và để Thủ đô văn minh, Toàn quyền Đông Dương và Thống sứ Bắc kỳ ra các nghị định tiếp tục chỉnh trang phố xá. Bên cạnh việc mở rộng, Hà Nội được chia thành 8 đơn vị hành chính cấp khu phố và bắt đầu treo biển tên phố, đánh số nhà và đặt tên cho các công viên. Số nhà được đánh theo quy định, bắt đầu từ hướng Bắc xuống Nam, từ hướng Đông sang Tây; từ Đông bắc xuống Tây nam và Tây bắc xuống Đông nam; bên tay phải là số chẵn và tay trái là số lẻ. Các phố ở khu vực "phố cổ" vẫn được dùng theo tên gọi cũ, nhưng ghi bằng chữ Pháp. Tên nhiều phố vẫn giữ nguyên nhưng được dịch sang tiếng Pháp, phố Hàng Đào họ dịch là Rue de la Soie, Hàng Điếu là Rue des Pipes. Cùng với việc mở rộng về phía nam, chính quyền cũng bán đất cho dân để xây phố mới ở phía tây và hầu hết phố mới đều đặt tên phố bằng tên của chính khách Pháp, sĩ quan trong đội quân xâm lược Việt Nam hay người giữ các chức vụ cao trong chính quyền bảo hộ. Chính phủ bảo hộ bao biện cho việc đó là "Hà Nội là thành phố của nước Pháp nên không có lý gì mà không lấy tên những người Pháp đã có công khai hóa văn minh cho An Nam".

Bảng tên phố bằng tiếng Pháp trong khi không phải dân chúng ai cũng biết tiếng Pháp, nhất là những thị dân không được học hành đã gây ra những chuyện dở khóc dở cười. Việc đặt tên phố quá bất cập nên báo L’Avenir du Tonkin số ra ngày 14-9-1907 đã cho đăng một bảng đối chiếu chữ Pháp với chữ Việt tên các đường phố Hà Nội dưới tiêu đề "Những chỉ dẫn hữu ích" (Renseignements utiles). Ngay phần trên của bảng đối chiếu, tác giả bài viết phàn nàn: "Nếu nói 10 lần bằng tiếng Pháp với người chạy xe tay: Conduis-moi rue de la Chaux (Hãy đưa tôi đến phố Hàng Vôi) thì sẽ có 9 lần trả lời: Không biết. Nhưng chỉ cần nói với anh ta bằng tiếng Việt: Đi Hàng Vôi thì anh ta hiểu và ngay lập tức quay xe đi đến phố Hàng Vôi". Còn báo L’Eveil e’conomique de L’Indochine phê phán đặt tên phố: "Tên Việt Nam dịch ra chữ Pháp thì người Pháp không hiểu, còn tên Pháp thì người bản xứ không hiểu. Song điều đó cũng dễ hiểu vì người Pháp đặt tên phố cho Pháp dùng, đâu phải đặt tên cho người bản xứ". Việc dùng tên phố bằng tiếng Pháp cũng gây phiền hà cho các bác sĩ, nhà thuốc, văn phòng luật sư vì quảng cáo của họ nhắm tới người Việt Nam. Ví như Boulevard (đại lộ) Gia Long thì họ phải chua thêm là Hàng Giò, Boulevard Đồng Khánh phải chua thêm là Hàng Bài.

Việc lấy tên người Pháp đặt tên phố khiến nhiều nhà Nho và cả trí thức "Tây học" không hài lòng và một trong số đó có ông Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Văn Vĩnh và một số học giả người Pháp ở Viện Viễn Đông bác cổ đã đề nghị nên lấy tên địa danh nơi phố mới đi qua để đặt tên, đồng thời kiến nghị lấy tên danh nhân và các anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam đặt tên phố nhưng Toàn quyền Đông Dương không chấp nhận. Năm 1908, Nguyễn Văn Vĩnh trở thành Ủy viên Hội đồng TP Hà Nội, ông đã quyết liệt nêu vấn đề đó tại các cuộc họp nhưng chính quyền dứt khoát không chấp thuận. Đến năm 1919, chính quyền bảo hộ lấy tên Đỗ Hữu Vị, một người Việt là phi công trong quân đội Pháp bị chết trận trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất đặt cho một con phố ở gần cổng thành phía Bắc (nay là phố Cửa Bắc). Việc đặt tên phố Đỗ Hữu Vị không phải là sự nhượng bộ của chính quyền trước sự bực tức của trí thức Việt mà họ vẫn theo tiêu chí "tôn vinh tất cả những ai vì nước Pháp, có công với nước Pháp".

Năm 1921, họ mới chấp thuận lấy tên danh nhân Việt Nam đặt tên phố nhưng chỉ có 3 người là quan của các triều đại phong kiến, đồng thời cũng là nhà thơ gồm: Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Công Trứ. 7 năm sau, năm 1928, họ chấp nhận lấy thêm tên các danh nhân: Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trãi đặt tên cho các ngõ chưa có tên. Tiếp theo năm 1931, chính phủ bảo hộ đồng ý lấy tên các anh hùng dân tộc gồm: Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo để đặt tên phố nhưng ở những ngõ nhỏ hẹp. Lý Thường Kiệt, Đinh Tiên Hoàng được đặt cho hai ngõ cụt ở khu Hàng Đũa (nay là khu vực phố Ngô Sỹ Liên), vốn là một khu ổ chuột. Còn thi hào Nguyễn Du thì họ đặt cho một ngõ nhỏ từ Hàng Đào ăn sang Gia Ngư ngập ngụa xú uế. Còn Trần Hưng Đạo thì đặt tên cho Ngũ Xã cũng là con ngõ nhỏ ở gần hồ Trúc Bạch. Khi Mặt trận bình dân Pháp lên nắm chính quyền, chính sách với thuộc địa cởi mở hơn, Toàn quyền Đông Dương đã nhượng bộ cho ghi thêm tiếng Việt vào biển tên phố.

Ngày 20-7-1945, Nhật giao lại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho người Việt Nam quản lý về mặt hành chính thì bác sĩ Trần Văn Lai được chính phủ Trần Trọng Kim mời làm Thị trưởng Hà Nội. Chỉ trong khoảng thời gian hơn một tháng, ông Trần Văn Lai đã làm được nhiều việc lớn là dùng chữ Việt để ghi chép giấy tờ, sổ sách tại tòa đốc lý và đổi lại tên đường phố và vườn hoa, công viên. Các tên phố bằng chữ Pháp được thay bằng chữ quốc ngữ, phố mang tên người Pháp đổi lại thành tên của các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Việt Nam theo nguyên tắc các danh nhân có ảnh hưởng lớn với dân chúng được đặt tên cho các phố lớn như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt; các sự kiện, nhân vật có mối quan hệ với nhau được đặt gần nhau như phố Trần Nhật Duật gần Hàm Tử Quan, Hoàng Diệu gần thành Hà Nội…


BTV NCCong (Theo baomoi.com)

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?