Ha Noi wards, streets and theirs names

Phường, phố và tên phố Hà Nội (1)

Nguyễn Ngọc Tiến

street

Năm 1954, nội thành Hà Nội chỉ gồm hơn 300 phố. Từ khi Hà Tây hợp nhất vào Thủ đô và nội thành được mở rộng về 4 hướng, nhiều phố mới đã hình thành, hiện tại riêng nội thành đã có gần 900 phố. Tìm hiểu các phường, phố và việc đặt tên thì có thể thấy nhiều chuyện vui buồn nhưng đó cũng là một phần của lịch sử.

Từ phường đến phố

Thăng Long thời Lý có thị bên cạnh thành. Thị là nơi dân chúng sinh sống, trong đó có các hoạt động thương mại còn thành là nơi ở và làm việc của vua quan, tuy nhiên thời nhà Lý chưa có phố. Phường là đơn vị hành chính tương đương với làng. Đến thời Trần, Thăng Long được chia làm 64 phường, mỗi phường chuyên một nghề, có phường chuyên trồng rau, phường chuyên trồng hoa, làm giấy, dệt lụa. Nói chung các phường cách xa trung tâm buôn bán của Thăng Long. Đến thời Lê, vào năm 1446, vua Lê Nhân Tông đặt ra phủ Trung Đô gồm 2 huyện là Quảng Đức và Vĩnh Xương. Năm 1469, Lê Thánh Tông đổi phủ Trung Đô thành Phụng Thiên với huyện Quảng Đức (sau đổi ra Vĩnh Thuận) và Vĩnh Xương (sau đổi ra Thọ Xương), mỗi huyện có 18 phường, tổng cộng Thăng Long có 36 phường.

Chính sách cấp đất cho dân ra đời từ đầu thời Lê, đến cuối triều đại này thì công điền bị thu hẹp, tư điền phình ra. Vì các chúa Trịnh đã ban hành những chính sách cởi mở hơn như: Giảm thuế chợ, nới rộng buôn bán và tự do sản xuất thủ công nên các làng nghề ven Thăng Long ào ra kinh đô lập cơ sở. Những chính sách đó đã thúc đẩy kinh tế phát triển, giao thương hàng hóa giữa các vùng với Thăng Long mở rộng. Theo thời gian, Thăng Long dần hình thành những nơi vừa sản xuất vừa bán sản phẩm; đồng thời cũng là nơi nhận đơn đặt hàng theo yêu cầu của các nhà buôn. Việc nhiều người cùng một phường bán các sản phẩm giống nhau ở cùng một địa điểm đã sinh ra câu thành ngữ "Buôn có bạn, bán có phường" chăng?

Theo nhà sử học người Pháp Philippe Papin, tác giả của cuốn "Lịch sử Hà Nội" thì danh từ phố theo chữ Nôm "là nơi mua bán, là khu dân cư tập trung quanh khu vực bến thuyền". Còn theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc thì phố nguyên nghĩa là chỗ bán hàng và phố có thể là một nhà bày bán hàng. Dần dần phố có nghĩa là nơi có nhiều cửa hàng. Cuối thời Lê, Sông Hồng, sông Tô Lịch, cùng các hồ lớn ở phía Đông và phía Nam Thăng Long vẫn thông với nhau bởi các con kênh. Không chỉ là đường giao thông thủy quan trọng mà tại các bến sông, mé sông, mép hồ còn là nơi tập trung dân cư đông đúc, họ vừa sản xuất hàng hóa vừa buôn bán. Ví như Hàng Buồm, Hàng Chĩnh nằm ngay sát Sông Hồng, Hàng Khoai nằm bên sông Tô Lịch. Các vùng miền trên cả nước theo đường sông về Thăng Long bán nguyên liệu, cất hàng mang đi các nơi. Sản xuất và thương mại phát triển nên Thăng Long xuất hiện nhiều phố hơn. Theo nhà truyền giáo Filippo de Marini đến Thăng Long năm 1663 thì ở đầu mỗi phố đều treo một tấm biển gỗ trên đó có ghi tên mặt hàng, danh sách các cửa hàng nên đến và không nên đến. Tên phố do dân chúng đặt ra để tiện cho việc mua bán và không phải là đơn vị hành chính.

Hà Nội 1873. Phạm Đình Bách vẽ lại

Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính lớn, trong đó có việc phân chia và đặt tên mới theo địa giới hành chính cấp tỉnh thì Thăng Long được sáp nhập với một số khu vực khác thành tỉnh Hà Nội với diện tích rộng hơn, gồm 4 phủ, 15 huyện. Trong số 15 huyện của tỉnh Hà Nội thì 2 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận vẫn thuộc phủ Hoài Đức và "36 phố phường" đều nằm trong địa phận hai huyện này. Huyện Thọ Xương có 18 phường, gồm: Yên Thọ, Hà Khẩu, Báo Thiên, Đông Hà, Đồng Xuân, Đông Tác, Đông Các, Cổ Vũ, Xã Đàn, Đồng Lạc, Thái Cực, Diên Hưng, Khúc Phố, Phục Cổ, Phúc Lâm, Kim Hoa, Hồng Mai, An Xá. 18 phường của huyện Vĩnh Thuận là: Bích Câu, Quảng Bá, Thụy Chương, Yên Thái, Hòe Nhai, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Chiêu, Trích Sài, Võng Thị, Bái Ấn, Yên Lãng, Công Bộ, Thạch Khối, Hồ Khẩu, Thịnh Quang, Yên Hoa và Quan Trạm.

Phố ngày càng rộng lớn hơn nên đòi hỏi phải có người trông coi quản lý an ninh trật tự, dàn xếp bất đồng và theo Philippe Papin thì chức trưởng phố xuất hiện từ năm 1850, do dân đặt ra nên không nằm trong ngạch quản lý hành chính của chính quyền. Nhưng dần dà, trưởng phố trở nên quan trọng hơn cả trưởng phường. Cũng theo Philippe Papin, chức trưởng phố có vai trò quan trọng cho đến năm 1954. Nếu người dân ven đô hay các tỉnh về Hà Nội mua nông cụ thì họ cứ đến thẳng phố Hàng Bừa, ai muốn mua mắm thì cứ ra phố Hàng Mắm, ai muốn mua tơ lụa ra phố Hàng Đào.

Trong những ghi chép của nhiều người Pháp từng đến hoặc sống tại Hà Nội giai đoạn 1875 đến 1888 cho thấy, họ sử dụng từ "rue" (tiếng Pháp là đường phố, phố). Tuy nhiên, trong các văn bản của triều Nguyễn lại không nhất quán, sách "Đại Nam nhất thống chí" do quốc sử quán triều Nguyễn (đời Tự Đức) soạn chép là phố và khi đó có 21 phố. Còn trong "Chuyến đi Bắc Kỳ" năm Ất Hợi 1876 của Trương Vĩnh Ký cũng dùng chữ phố và ông bổ sung thêm 2 phố. Song trong bản đồ Hà Nội của sách "Đồng Khánh địa dư chí" soạn vào đời Đồng Khánh lại chép tên 36 phường ở Hà Nội mà không có phố. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Uẩn, tác giả của bộ sách "Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX" thì "phường được sử dụng trong giấy tờ của nhà chức trách còn phố do dân gọi và lâu mà thành và phố vẫn nằm trong phường".

Nhưng "Hà Nội 36 phố phường" là thế nào? Một trong số các bài ca về 36 phố phường được ghi trong sách "Việt Nam thi văn hợp tuyển" của Dương Quảng Hàm có nội dung như sau: "Rủ nhau chơi khắp Long Thành/Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai/Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai/Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay/Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy/Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn/Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang/Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng/Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông/Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè/Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre/Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà/Quanh đi đến phố Hàng Da/Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh/Phồn hoa thứ nhất Long thành/Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ/Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ/Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền". Cho đến hôm nay, khi viết hay nói về Hà Nội người ta vẫn dùng khái niệm "Hà Nội 36 phố phường". Thực ra 36 phường chỉ có trong thời Lê, đến thời vua Tự Đức thì Hà Nội có 153 phường, thôn, trại. 36 là số đẹp nên "Hà Nội 36 phố phường" là cách nói mang tính biểu tượng của Thăng Long - Hà Nội.

Khu phố ta cuối TK 19

Phường và phố Hà Nội thế kỷ XIX

Năm 1802, Nguyễn Ánh chuyển kinh đô vào Huế, hạ cấp Thăng Long thành Bắc Thành rồi Bắc Trấn. Lại cho đổi cách viết chữ Hán từ “Thăng Long” với nghĩa “rồng bay” thành “Thăng Long” với nghĩa “thịnh vượng”. Dù không còn là kinh đô nhưng Thăng Long vẫn là thành phố lớn nhất miền Bắc với "phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ". Thế nhưng từ vua Gia Long đến Minh Mạng đã ra nhiều chính sách về xây dựng đối với Hà Nội, cấm nhà dân trong phố không được xây cao quá kiệu voi, lại đánh thuế môn bài theo diện tích mặt tiền nên nhiều nhà phải chia nhỏ cửa hàng, đây là nguyên nhân sinh ra nhà ống ở Hà Nội.

Khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất năm 1873, dân chúng bỏ nhà cửa chạy loạn, khi trở về thì Hà Nội xuống cấp. Pháp đánh thành lần thứ hai năm 1882, dân chúng lại tan tác, vì thế thành phố đã xác xơ lại xác xơ hơn. Trong một cuốn sách, G.Azambre (giáo viên Trường Albert Sarraut ở Hà Nội) mô tả về phố Hà Nội năm 1875 như sau: "Ngoài những khu phố Tàu thì các nhà Kẻ Chợ là nhà tranh. Kẻ Chợ không tạo ra một thành phố theo đúng nghĩa của từ này. Các phố nằm xen lẫn với đầm hồ tạo thành thôn và có cả đình riêng, nghề riêng". Còn ghi chép của Công sứ Bonnal trong cuốn "Ở Bắc Kỳ, ghi chép và kỷ niệm" (Au Tonkin — notes et souvenirs 1883-1885) về "khu phố cổ" thì: "Phố rất hẹp, họ chỉ lát gạch rộng chừng 1m ở giữa đường và gạch thì bị vỡ hoặc xô lệch. Hai bên là bùn bốc mùi hôi thối vì nước thải không có chỗ tiêu thoát. Mỗi khi có kiệu hay người cưỡi ngựa qua, người đi bộ phải lội xuống bùn lầy để tránh, có chỗ bùn sâu tới 30cm".

Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã ra lệnh cho trưởng phố dỡ bỏ những chái nhà lấn chiếm và buộc các nhà buôn phải thu hẹp mái hiên và giá để hàng. Còn Jordany, ủy viên Cảnh sát trưởng thành phố sử dụng tù nhân lấy gạch ngói vỡ ở các phố bị quân Cờ đen đốt phá để san bằng các con đường, đào rãnh thoát nước. Thời kỳ này phố trưởng ở một vài phố tự động cho treo biển tên phố bằng chữ Hán để thuận tiện cho việc buôn bán.

Ngày 19-7-1888, Tổng thống Pháp khi đó là Carnot ký sắc lệnh thành lập TP Hà Nội với diện tích 9,4ha (thuộc tỉnh Hà Nội, bao gồm toàn bộ quận Hoàn Kiếm, một phần quận Ba Đình hiện nay) thuộc quyền quản lý của Thống sứ Bắc kỳ do Maire người Pháp làm đốc lý. Hơn 2 tháng sau, ngày 1-10-1888, vua Đồng Khánh bị ép ký chuyển đất Hà Nội thành nhượng địa cho Pháp. Liên tiếp trong các năm 1890, 1891 và 1892, Thống sứ Bắc kỳ Brière đã ra nhiều nghị định trong đó có nghị định cấm làm nhà lá ở một số tuyến phố quanh Hồ Gươm; nghị định đăng công báo ngày 21-4-1890 ấn định chiều dài, chiều rộng, vỉa hè ở các phố và đường, nắn thẳng khi làm mới hay sửa chữa; nghị định ngày 21-9-1891 về thoát nước, mặt tiền, chiều cao, phần nhô ra... cho các phố. Có lẽ khu phố cổ còn lộn xộn và dù có nhiều nhà gạch được xây nhưng đến năm 1897 vẫn còn tới 2.954 nhà lá nên chính quyền chưa đánh số nhà và treo biển tên phố. 

(còn nữa)

BTV NCCong (Theo Nguyễn Ngọc Tiến)

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?