Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Đình làng > Đình Kim Hoàng

Kim Hoang village hall

Đình Kim Hoàng

Maison communale de Kim Hoang

Thứ Bảy 19, Tháng Giêng 2019

Đình làng Kim Hoàng có từ năm 1701. Thờ thành hoàng: thần Đất và thần Sông. Địa chỉ: ngõ 143 Vân Canh, ven đường DT143, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội. Toạ độ: 21°02’01"N 105°43’56"E. Cách Hồ Gươm: 18km về phía tây. Điểm dừng bus lân cận: Trường THCS Vân Canh trên đường DT143 (xe 97), Xuân Phương trạm 2 trên đường TL70a (xe 57)

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Xưa kia vùng Canh từng sinh ra nhiều người đỗ đại khoa nên đã nổi tiếng như một trong "tứ danh hương" ở ven đô với 4 tổng có tên nôm là Mỗ, La, Canh, Cót. Vùng này hình thành muộn nhất cũng từ thời Lý và tên xã Vân Canh đã xuất hiện vào thời Lê sơ. Ngày nay xã gồm 3 thôn: Kim Hoàng, An Trai và Hậu Ái (Nhân Ái).

Thôn Kim Hoàng ra đời vào khoảng cuối thế kỷ 16, được sáp nhập và có tên ghép từ hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng.[1] Đầu thế kỷ 18 (thời Lê trung hưng), dân hai làng đó đã chung tay xây dựng một ngôi đình lớn, nơi hiện còn lưu giữ một tấm biển đề 4 chữ Hán "Lưỡng Bảng Hội Đình". Đình thờ thành hoàng là hai vị thần Đất và thần Sông.

Người Kim Hoàng ngoài nghề nông còn làm nghề sơn, thêu… nhưng đặc sắc nhất là nghề vẽ tranh, đến mức cả làng được gọi là "Phường Kim Hoàng" như một phường nghề thủ công đầy uy tín. Tranh Kim Hoàng cùng với Đông Hồ và Hàng Trống từng được xem là ba dòng tranh dân gian lâu đời ở Việt Nam. Trận lụt do vỡ đê Liên Mạc năm 1913 đã cuốn trôi rất nhiều bản khắc trên ván gỗ và làm nghề vẽ tranh này gần như thất truyền suốt trăm năm qua. Mãi tới gần đây dân sở tại mới có điều kiện sửa lại đình, chùa, cổng làng, đường xóm và xây ngôi nhà gìn giữ truyền thống tranh Kim Hoàng ở ngay bên cạnh đình với gần 50 bản khắc gỗ đã được khôi phục.[2]

Đình Kim Hoàng. Panorama (c) NCCong 2019 Jan.

Kiến trúc

Đình Kim Hoàng toạ lạc trên khu đất cao giữa làng, mặt trước quay về hướng tây nhìn qua sân lớn và cây cảnh ra một ao to, bờ bên kia có bức bình phong đắp cuốn thư đồ sộ. Khuôn viên đình thoáng rộng, sân sau có hai cây đa cổ thụ, hai bên hông có các cửa ngách ăn thông với đường làng ngõ xóm. Cổng chính được xây dựng như một nghi môn với 4 trụ biểu đắp câu đối chữ Hán, các bức phù điêu hộ pháp và cửa phụ đều có mái đắp ngói ống giả.

Sau nghi môn là sân trong và hai dãy tà, hữu mạc nhìn ra 2 cây đại khá to. Toà tiền tế rộng 5 gian 2 dĩ, kết nối với hậu cung 3 gian thành hình chuôi vồ. Toàn bộ mái đình dựa trên 48 cột to nhỏ, quây thành 3 hình chữ nhật lồng nhau thành vòng. Vòng ngoài có 24 cột hiên, vòng giữa 16 cột quân, vòng trong 8 cột cái. Trên cây cột cái còn ghi thời điểm dựng đình là năm Chính Hòa thứ 21 (1701).

Trong đình Kim Hoàng ngoài đồ tế khí và trang trí còn có các bức hoành phi, câu đối mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê-Nguyễn. Các mảng chạm khắc gỗ đẹp hồn nhiên và cho thấy cảnh hội làng sống động với những người đánh vật, bắn cung, múa đinh ba, thổi sáo, cưỡi báo, cưỡi rồng, những phụ nữ cưỡi voi hoặc mặc yếm, váy dự hội…

Di sản

Đình làng Kim Hoàng có 6 sắc phong cho hai vị thần Đất và thần Sông: ngày mồng 3 tháng Mười âm lịch năm Tự Đức thứ 10 (1857), ngày mồng một tháng Bảy năm Đồng Khánh thứ 2 (1887); ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ 9 (1924). Hàng năm, trong ba ngày mùng 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch, dân làng lại tổ chức lễ hội truyền thống để tri ân công đức của tiền nhân và giải trí với các trò vui dân gian. Đúng dịp này, tất cả những gia đình sinh con trai trong năm sẽ mang lễ vật ra đình làng để báo cáo và làm "lễ vào làng" cho con.

Trước đó, vào rằm tháng 11 âm lịch, các nghệ nhân tranh Kim Hoàng tổ chức giỗ Tổ phường, rồi chia ván gố cho các thành viên tập trung vào việc in, vẽ tranh suốt cả tháng. Đến rằm tháng Chạp, phường tranh làm lễ tế Thánh sư, rồi đưa tranh đi chợ bán. Giữa tháng Giêng, hết mùa tranh Tết, chủ phường lại thu hồi ván in về bảo quản tại kho.

Di tích lân cận

Chú thích

[1] Làng Kim Hoàng có tiến sỹ Trần Hiền đỗ khoa Quý Sửu 1733 đời Lê Thuần Tông, làm quan đến chức Hàn lâm viện Đãi chế. Hơn 30 năm sau, cháu nội là Trần Bá Lãm (1758-1815) đỗ tiến sỹ khoa Đinh Mùi 1787, đời Lê Mẫn Đế, làm quan tới chức Lại khoa cấp sự trung, rồi Đốc đồng xứ Hải Dương, hàm Đông các Đại học sỹ. Lại có tiến sỹ Lý Trần Quán, đỗ khoa Bính Tuất 1766 đời Lê Cảnh Hưng, làm quan tới chức Hiến sát xứ Hải Dương, Hiệp trấn Sơn Tây, tác giả Thiên Nam liệt khoa hội tuyển. Em là Lý Trần Dự, đỗ tiến sỹ khoa Kỷ Sửu 1769 đời Lê Cảnh Hưng, làm quan đến chức Đốc đồng Lạng Sơn, Hàn lâm viện Đãi chế. Thời cận đại, tháng 10.1929, các tổ Nông hội đầu tiên của cả vùng ra đời tại Kim Hoàng. Năm 1943, Hội truyền bá quốc ngữ được thành lập do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện là Hội trưởng, đặt tại trường Hứa Do. Từ 26-11 đến 3-2-1946 tại trường này, Hồ Chủ tịch cùng các cộng sự Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuẩn bị kháng chiến lâu dài… Làng còn là quê của họa sỹ Bùi Xuân Phái và Văn Đa, bộ trưởng Xuân Thủy, sử gia Văn Tân, bác sỹ Nguyễn Tài Thu…

[2] Tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống được tạo tác chủ yếu bằng in từ bản khắc trên ván gỗ. Nghệ nhân Kim Hoàng sau khi dùng ván in nét còn dùng bảng màu đa sắc để vẽ tiếp. Ngoài để thờ và để treo Tết như tranh Ông Công, Ông Táo, các vị Tiên sư, Tiến lộc, Tiến tài, Lợn, Gà… lại có cả tranh tả cảnh sinh hoạt như Đấu vật, Chọi trâu, Đi cày, Hứng dừa… Tranh được vẽ trên giấy điều, giấy tàu vang, bởi thế mà còn gọi là tranh đỏ Kim Hoàng.


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?