Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Đền miếu > Miếu Mèn

Mieu Men Temple

Miếu Mèn

Temple Mieu Men

Thứ Năm 7, Tháng Ba 2019

Miếu Mèn có trước đền Thịnh Thôn. Cùng thờ: Bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng. Xếp hạng: Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia (1990). Địa chỉ: thôn Nam An, xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Toạ độ: 21°10’05"N 105°27’59"E. Cách Hồ Gươm: 47km về hướng tây. Điểm dừng bus lân cận: Đd Cây xăng Hoàng Long Cam Thượng ven QL32 (xe 20b, 70, 70b, 77, 89, 92)

Bản đồ trực tuyến

Miếu Mèn

Theo truyền thuyết, bà Man Thiện thuộc dòng dõi các vua Hùng, có sách chép rõ tên bà là Trần Thị Đoan, quê làng Nam Nguyễn, Ba Vì. Khu vực này là một trong những địa bàn sinh tụ của cư dân Việt cổ thời Hùng Vương. Hiện nay đã tìm thấy các chứng tích khảo cổ học như: Gò Hện ở Vạn Thắng, gò Mão Sơn với các công cụ thuộc thời đại đồ đá mới.

Man Thiện sang sông lấy ông Hùng Định, quê làng Hạ Lôi và là Lạc tướng ở Mê Linh (nay thuộc Hà Nội). Họ sinh ra hai con gái Trưng Trắc và Trưng Nhị. Góa chồng từ khi còn trẻ, Man Thiện đã nuôi con khôn lớn, dạy võ nghệ và chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa chống ách cai trị của nhà Đông Hán. Năm 40, chồng Trưng Trắc bị giết, hai chị em đứng lên kêu gọi các tộc trưởng chiêu tập quân sĩ đánh đuổi thái thú Tô Định, giải phóng 65 huyện thuộc vùng Lĩnh Nam. Trưng Trắc lên ngôi vua, Man Thiện được tôn là Man Hoàng hậu và trở về quê.

Năm 43, Hán Quang Vũ cử danh tướng Mã Viện đem quân sang đánh Hai bà Trưng. Tuy tuổi đã già Man Thiện vẫn chỉ huy căn cứ Nam Nguyễn cho đến trận đánh cuối cùng vào ngày 10 tháng chạp âm lịch và hy sinh. Tại nơi mai táng bà gọi là gò Mả Dạ, dân dựng lên ngôi Miếu Mèn để thờ, nay thuộc làng Nam An, xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, gần cửa sông Đáy. Thời cổ, "Dạ" là tiếng tôn xưng bà già dũng cảm.

Đến thời Lý, do bị đại hạn, triều đình sai đưa Cẩm Tĩnh Thiền Sư đến Miếu Mèn cầu đảo và được linh ứng. Cảm ơn ân đức của thần, vua Lý Anh Tông cho tu tạo lại tòa miếu cổ và ban sắc phong Man Thiện là “LINH TRINH PHU NHÂN MẪU HẬU VỊ ĐẠI VƯƠNG THƯỢNG ĐẲNG THẦN”. Các triều đại tiếp theo đều phong tặng, ca ngợi công đức của Man Hoàng hậu và người đời sau truy tôn bà là Đức Quốc Mẫu.

Miếu Mèn. Panorama (c) NCCong 2019

Miếu Mèn quy mô không lớn nhưng còn giữ được nhiều di vật quý giá như: kiệu bát cống, long ngai, bài vị, hương án, nghê gỗ... và hoành phi, câu đối, sắc phong biểu thị lòng thành kính với bà mẹ anh hùng của dân tộc ở đầu kỷ nguyên. Miếu Mèn đến năm 1990 đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.

Ngày 18-7-2010, di tích Miếu Mèn được mở rộng khuôn viên và tôn tạo, bổ sung các công trình: tiền bái, đại bái, hậu cung, nghi môn, tả hữu vu, tường bao xung quanh di tích, lăng mộ Man Hoàng hậu, con đường bê tông dẫn vào di tích và từ di tích sang Mả Dạ. Các nếp nhà chủ yếu dùng gạch làm tường, mái lợp ngói ta, khung bằng gỗ lim. Tam quan nội mới xây nhìn về hướng nam trông ra sông Hồng cách Mả Dạ khoảng 200m, cách đền Hát Môn 19km.

Đền Thịnh Thôn

Cứ như được thần dẫn lối trong chuyến du xuân, tình cờ có người dân làng Vân Sa nói phải đến thăm ngôi đình to nhất xứ Đoài. Lao xao nghe không rõ đường nên chiều muộn chúng tôi đi tìm đình đó và Miếu Mèn loanh quanh thế nào lại qua Thịnh Thôn, nơi cũng thờ đức Quốc mẫu.

Theo truyền thuyết dân gian và bản thần phả do quan Hàn lâm Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn vào ngày lành tháng ba Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572), xác bà Man Thiện sau khi tử trận đã trôi về địa phận làng Thịnh Thôn (nay thuộc xã Cam Thượng, huyện Ba Vì), dân làng đem chôn tại cánh đồng, rồi sau lập một đền thờ. Trải qua bao thế kỷ, ngôi đền đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo, một trong các dấu tích trùng tu là dòng chữ Hán "Tự Đức nhị thập ngũ niên" (năm 1872).

Ngày nay, tam quan mới xây theo kiểu nghi môn với 4 trụ biểu và 2 cổng bên dẫn khách vào sân đền. Đền chính có mặt bằng xây dựng hình chuôi vồ, bao gồm đại bái 3 gian và hậu cung. Đại bái có kết cấu theo kiểu "kèo kẻ giá chiêng" và được trang trí giản dị: đầu dư chạm khắc kiểu đốt trúc, các kẻ bẩy, con rường... với họa tiết lá lật. Nếp nhà này chỉ xây bít đốc, không bịt tường hậu và có chức năng gần như cổng Đại Trung Môn ở Văn Miếu Hà Nội.

Trên cửa hậu cung có ba chữ Hán lớn "Tối linh từ" (Đền rất thiêng), dưới bức đại tự có hai bức cốn chạm nổi hình chim phượng đăng đối chầu vào hậu cung. Trong hậu cung có long ngai, bài vị và 9 đạo sắc phong Quốc mẫu. Đền Thịnh Thôn đến năm 1992 đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?