Trang nhà > Giới thiệu > Khảo cứu > Các ngôi đình trong khu phố cổ Hà Nội

Các ngôi đình trong khu phố cổ Hà Nội

Khu phố cổ Hà Nội (KPC) là nơi lưu giữ được 59 ngôi đình trong tổng số 112 công trình tôn giáo tín ngưỡng đã từng có tại đây.

Đình Phả Trúc Lâm. Photo ©2016 NCCong

Các ngôi đình trong KPC phản ánh yếu tố lịch sử của một khu đô thị có nguồn gốc nông thôn – nông nghiệp. Không gian kiến trúc của chúng cũng có những đặc trưng phản ánh rõ nét quá trình hình thành và phát triển của KPC, góp phần tạo nên bản sắc của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.

KPC được hình thành từ một hệ thống các bến chợ nằm xen lẫn các làng nông nghiệp. Do vậy, những ngôi đình ở đó phản ánh các yếu tố lịch sử của một khu vực đô thị có nguồn gốc làng xã. Chức năng chính của những ngôi đình này là thờ Thành hoàng – vị thần bảo hộ cho người dân trong khu vực, nhiều ngôi đình còn thờ các vị thần được tôn vinh là Thành hoàng của kinh thành Thăng Long như thần Tô Lịch – thần Sông, thần Bạch Mã – thần Ngựa Trắng và thần Thiết Lâm – thần Rừng, những vị thần đã có công giúp Lý Thái Tổ xây dựng Kinh thành và bảo hộ cho đế đô. Nhiều ngôi đình thờ vua, hoàng gia và những người có công lớn trong việc trị vì đất nước (vd. các quan tướng Trần Lựu, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trung Ngạn…) và tôn làm Thành hoàng, thể hiện sự kính trọng vua và chính thể quân chủ.

Bên cạnh đó, KPC Hà Nội là nơi xuất hiện những ngôi đình thờ tổ nghề từ rất sớm và với số lượng nhiều nhất trong một khu vực diện tích 100 ha. Có 14 ngôi đình thờ tổ nghề, đó là: đình Kim Ngân và đình Trương Thị (nghề kim hoàn); đình Lò Rèn (nghề rèn); đình Phả Trúc Lâm (nghề da); đình Hài Tượng (nghề giày); đình Hàng Quạt tức Xuân Phiến Thị (nghề quạt); Đình Thuận Mỹ, đình Hà Vĩ (nghề sơn); đình Hoa Lộc Thị (nghề nhuộm): đình Tú Thị (nghề thêu); đình Kiếm Hồ (nghề vôi); đình Trang Lâu (nghề mộc); đình Nhị Khê (nghề tiện); đình Phúc Hậu (nghề gương); đình Hàng Thiếc (nghề thiếc)… Những đình này là nơi tụ hội những người cùng họ tộc, hay cùng quê, cùng làng xã, góp phần tăng thêm tính gắn kết của mối quan hệ họ tộc và cộng đồng trong KPC. Hiện nay, nhiều ngôi đình thờ tổ nghề trong KPC vẫn là đầu mối gặp gỡ, tạo quan hệ cộng đồng gắn kết dựa trên mối liên hệ với làng quê gốc, tích hợp được những tinh hoa của nhiều làng nghề ở miền Bắc: Làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm), làng nghề vàng bạc Châu Khê (Hải Dương), Đồng Xâm (Thái Bình), Định Công (Thanh Trì), làng mộc Phương Lâm, Cúc Bồ (Hải Dương), Phụng Công (Thanh Oai), làng chạm khắc Nhị Khê (Thường Tín), Liễu Chàng (Gia Lộc, Hải Dương), làng chế tác mây tre đan Giới Tế (Yên Phong, Bắc Ninh), làng mộc Hà Vĩ (Thường Tín), làng thêu Hướng Dương, Quất Động (Thường Tín)…

Đặc trưng về mặt bằng và cấu trúc không gian

Do đặc điểm về hình thái kiến trúc đô thị, cấu trúc ô phố, nên đình trong KPC có những điểm khác biệt so với các ngôi đình truyền thống. Dễ nhận nhất là sự vắng mặt của hồ nước, sân ngoài. Hầu hết các ngôi đình trong phố có cổng hay tam quan được xây sát hè phố, trông ra mặt đường (đình Thanh Hà, đình Yên Thái, đình Nhân Nội, đình Kim Ngân, đình Tân Khai…). Sơ đồ cấu trúc không gian của các ngôi đình trong KPC như sau: Phố, ngõ – Cổng đình (nghi môn) – Sân trong – Khu chính đình (tiền tế, đại bái) – Phương đình (có thể có hoặc không) – Hậu cung.

Như vậy, không gian sân phía ngoài đình của các ngôi đình truyền thống thường vắng mặt trong cấu trúc không gian đình KPC. Thay vào đó là các không gian đường phố, ngõ tiếp cận với các ngôi đình, chính những không gian này được sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt cộng đồng trong các dịp tế, lễ. Kiến trúc phương đình cũng không phổ biến tại nhiều ngôi đình trong KPC, do sự hạn chế về diện tích sử dụng. Các khu vực tả vu, hữu vu cùng với các khu vực phụ trợ cũng bị biến thể trong cấu trúc không gian các ngôi đình KPC.

Theo quan niệm phong thủy và tín ngưỡng của người Việt, các ngôi đình thường quay về hướng Nam và hướng Tây. Tuy nhiên trong KPC, hướng của đình bị chi phối bởi hướng của các tuyến phố nên thường không tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc. Theo điều tra khảo sát, nhiều ngôi đình hướng về các sông, hồ, nguồn nước đã từng tồn tại, hoặc đang tồn tại trong khu vực – thể hiện tâm thức của cư dân nông nghiệp, không lệ thuộc vào các yếu tố phong thủy phức tạp của người Trung Quốc. Trong KPC, một số ngôi đình như Yên Thái, Trung Yên, Tân Khai … quay hướng nam hoặc đông-nam, nhìn ra sông Hồng và hồ Lục Thủy (Hoàn Kiếm ngày nay).

Quy hoạch mặt bằng kiến trúc các đình ở khu phố cổ Hà Nội khá đa dạng. Dựa vào mặt bằng kiến trúc, có thể nhận ra 3 loại bố cục mặt bằng chủ đạo:

  • hình chữ Công: đình Thanh Hà (10 Ngõ Gạch), đình Tân Khai (44 Hàng Vải), đình Yên Thái (8 ngõ Tạm Thương)…;
  • hình chữ Nhị: với 2 lớp nhà ngang, nối với nhau bởi khoảng sân trong mà ta có thể thấy tại đình Phất Lộc (46 ngõ Phất Lộc), đình Hà Vĩ (11 Hàng Hòm)…;
  • hình ống: chiếm phần lớn (trên 60% tổng số các ngôi đình trong KPC), điển hình là đình Trung Yên (10 ngõ Trung Yên), đình Đồng Lạc (38 Hàng Đào), đình Đức Môn (38b Hàng Đường), đình Vũ Du (42 Hàng Da), đình Lò Rèn (1 Lò Rèn), đình Trương Thị…

Các công trình nằm trong KPC có quy mô tương đối nhỏ, rất ít ngôi đình có tổng thể hoàn chỉnh như ở nông thôn, nhiều công trình phải đơn giản bớt các hạng mục, bố cục gọn gàng, quy mô nhỏ hẹp. Hiện nay nhiều ngôi đình chỉ còn phần hậu cung hoặc chỉ còn phần bệ thờ, một số ngôi đình chỉ còn lại 1 phần thờ cúng đặt trên tầng 2 của ngôi nhà…

Hình thức kiến trúc, nghệ thuật trang trí, điêu khắc

Phần lớn các ngôi đình được xây dựng vào thời kỳ cuối Lê, đầu Nguyễn hoặc thời Nguyễn, mang phong cách kiến trúc đặc trưng của các thời kỳ này.

Hình thức kiến trúc, nghệ thuật trang trí của các ngôi đình trong KPC không đặc sắc và ở mức tuyệt tác như các ngôi đình làng cổ tại nông thôn miền Bắc (Tây Đằng, Chu Quyến…) nhưng vẫn thể hiện phong cách dân gian truyền thống, tỉ lệ công trình rất phù hợp kích thước thửa đất và với các công trình xung quanh. Các ngôi đình có cấu tạo mái ngói nhiều lớp, tạo hình ảnh đẹp, đặc trưng của đô thị. Nghệ thuật chạm khắc tập trung chủ yếu trên các bức cửa võng, cuốn thư, hương án, các chi tiết kết cấu mái bằng gỗ, chi tiết kết cấu gỗ của nhà tiền đình… làm tăng thêm vẻ đẹp cho công trình, giảm bớt sự nặng nề cho bộ khung kiến trúc như đình Yên Thái, đình Nhiễm Thượng…. Trang trí kiến trúc của các ngôi đình rất phong phú, đề tài là các linh vật, văn thực vật, văn triện và tượng nghê. Những mảng trang trí này mang tính thẩm mỹ cao, phần lớn thuộc nghệ thuật thời Nguyễn như phương đình đình Đông Thành, đình Thanh Hà…. Phần lớn các ngôi đình còn lưu giữ được các di vật văn hóa với nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau, thể hiện tài hoa của các nghệ nhân: sơn mài, hội họa, điêu khắc. Trên các di vật của đình như hương án, long ngai, hoành phi, cuốn thư, cửa võng bát bửu…, các đề tài được chú ý diễn tả là tứ linh, tứ quý, rồng chầu mặt trời, hoa chanh, cánh sen, hoa dây vân mây đan xen…

Đặc điểm kết cấu, kỹ thuật xây dựng thể hiện ở hệ kết cấu chịu lực mái. Phần lớn các ngôi đình có bộ khung kết cấu chịu lực làm bằng gỗ, với các bộ vì được kết cấu theo kiểu “chồng rường con nhị”, “chồng rường hai hàng chân” (đình Thanh Hà), kiểu “vì kèo” (đình Đức Môn). Trong một số kiến trúc có vòm “vỏ cua” nối các nếp nhà (đình Hương Tượng, đình Đức Môn). Hiện nay, chỉ còn một số các ngôi đình giữ được hệ kết cấu chịu lực bằng gỗ (đình Tân Khai, đình Yên Thái, đền Quan Đế, đình Thanh Hà…), phần lớn đã bị sửa chữa, bị thay thế một phần hay toàn bộ.

Các giá trị phi vật thể

  • Giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống: Các ngôi đình gắn liền với các di tích và địa danh cụ thể của kinh thành Thăng Long xưa, tồn tại và phát triển cùng với sự hưng thịnh của kinh thành. Đình Đức Môn cùng với chùa Cầu Đông là dấu ấn sâu đậm của một trong bốn cửa của Hoàng thành thời Lý. Ngôi nhà số 8 Hàng Cân còn ghi ba chữ “Đông Môn đình”, gồm chùa Cầu Đông hay còn gọi là chùa Đông Môn cùng với đình Đức Môn chính là phía Cửa Đông thành Thăng Long cũ. Do vậy đình Đức Môn – chùa Cầu Đông mang tên gắn với địa danh là Đông Môn (Cửa Đông). Ngoài ra, các ngôi đình tổ nghề trong KPC phản ánh được hầu hết các nghề thủ công truyền thống trên đất Thăng Long xưa. Việc thờ tổ nghề của các ngôi đình trong KPC Hà Nội có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tìm hiểu về quy hoạch, dân cư, kinh tế xã hội trong đô thị cổ Hà Nội.
  • Giá trị tâm linh – gắn kết cộng đồng: Các ngôi đình trong KPC đã thể hiện các giá trị gắn kết văn hóa tinh thần và tâm linh của người dân trong khu vực. Mặt khác, sự tồn tại của các ngôi đình này còn là minh chứng của tâm linh người Hà Nội cũ: tìm cách hòa đồng với thế giới tâm linh, vì cùng với một không gian đô thị vật chất, còn tồn tại một không gian đô thị huyền thoại, ẩn chìm và thiêng liêng, ở đó có thể giao hòa cùng quá khứ và tìm được một nguồn sinh lực khác.
  • Giá trị kiến trúc cảnh quan hấp dẫn – thu hút tham quan du lịch: Kiến trúc của các ngôi đình trong KPC được xây dựng lên từ trí tuệ và công sức của cả một cộng đồng dân cư với lòng thành kính và quyết tâm, với những vật liệu và kỹ năng tuyệt vời của những bàn tay tài hoa nhất. Chính vì vậy, nhiều ngôi đình có giá trị thẩm mỹ cao với các yếu tố: đắc địa, kiểu dáng kiến trúc độc đáo, hài hòa gắn bó với thiên nhiên tạo quần thể kiến trúc đẹp, sinh động hấp dẫn (như: các đình Thanh Hà, Yên Thái, Đức Môn, Đồng Lạc…). Tại KPC, tổ hợp kiến trúc gốc (khi chưa bị lấn chiếm) của những ngôi đình có mật độ xây dựng thấp, trên 50% các ngôi đình có thể tiếp cận từ các tuyến phố và có thể nhận biết hình thức mặt đứng từ các tuyến phố chính, tạo kiến trúc cảnh quan đẹp cho tuyến phố. Các ngôi đình có đường nét kiến trúc duyên dáng, tỷ lệ vừa phải – gần gũi với tỷ lệ con người. Đây chính là các yếu tố phá bỏ sự đơn điệu của phố xá, tạo ra những khoảng mở, khoảng trống, những lá phổi xanh và sự đa dạng không gian trong cấu trúc đô thị.

Hiện nay, đô thị đang phát triển một cách nhanh chóng, kiến trúc của các ngôi đình là yếu tố góp phần tích cực vào việc tạo ra sự đa dạng, phong phú cho bộ mặt kiến trúc đô thị, tạo nét đặc trưng cho KPC. Nó tạo nên sự chuyển đổi không gian mềm mại và uyển chuyển, tạo mối liên kết về hình ảnh của Quá Khứ – Hiện Tại – Tương Lai.

Việc duy trì và gìn giữ các không gian kiến trúc và chức năng gốc của các ngôi đình còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức, mà tiêu biểu là áp lực của sự phát triển (tăng dân số, nhu cầu về nhà ở, nhu cầu tăng khả năng kinh tế, yêu cầu nâng cấp hạ tầng kỹ thuật), sự thay đổi phương thức, lối sống của con người, và mâu thuẫn giữa việc duy trì bảo tồn các giá trị kiến trúc truyền thống với sự phát triển đô thị trong bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay. Vì vậy, việc bảo tồn, khôi phục các đặc trưng vốn có của các ngôi đình trong KPC cần phải được sự quan tâm, góp sức, sự tham gia của chính quyền địa phương và cộng đồng. Phát hiện các vấn đề, đề xuất giải pháp nhằm gìn giữ, bảo tồn chức năng, không gian kiến trúc và các giá trị phi vật thể gắn liền với các ngôi đình trong KPC sẽ là những bước tiếp theo để giúp cho các di sản văn hóa lịch sử trong KPC sẽ mãi tỏa sáng trong lòng Hà Nội.


ThS. KTS Tạ Quỳnh Hoa