Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Giới thiệu > Đất lành > Làng Hương Ngải

Huong Ngai Village

Làng Hương Ngải

Village de Huong Ngai

Thứ Hai 7, Tháng Mười 2019

Đình Đông Thanh theo truyền thuyết có từ thời Trần. Thờ: Tam vị Đại vương. Xếp hạng: Di tích thành phố (2009). Địa chỉ: xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội. Toạ độ: 21°03’20"N 105°36’04"E. Cách Hồ Gươm: 37km về hướng tây. Điểm dừng bus lân cận: Hương Ngải trên ĐT420 (xe CNG01), số 97 Đồng Cam trên ĐT419 (xe 77, 89)

Đình Đông Thanh. Photo (c) 2019 NCCong

Địa lý

Hương Ngải vốn là một xã thuộc huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Từ năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây, đến 1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Từ 1978 đến 1991 nhập vào thủ đô Hà Nội. Từ 1991 lại trở về với tỉnh Hà Tây. Từ 1-8-2008 thuộc TP Hà Nội. Xã trước đây bao gồm 4 thôn: Nậu Thượng, Nậu Trong, Nậu Hạ và Nậu Tư. Nay được phân lại thành 9 thôn, đánh số từ 1 đến 9.

Địa giới xã phía bắc giáp các xã Phụng Thượng và xã Tam Hiệp (huyện Phúc Thọ), phía đông giáp xã Canh Nậu, phía nam giáp xã Chàng Sơn, phía tây giáp thị trấn Liên Quan và xã Phú Kim. Xã Hương Ngải có diện tích 4,8 km², dân số năm 1999 là 7.195 người, mật độ dân số đạt 1.499 người/km².

Theo các cụ già trong làng kể lại, Hương Ngải tên Nôm là Kẻ Ngái, bởi vì ngày xưa có rất nhiều cây ngái ở xung quanh. Cái tên Hương Ngải cũng có gốc gác từ mùi hoa của loài cây ấy. Khi cây ngái nở hoa, hương thơm lan toả khắp vùng nên dân gian đặt tên làng là "Hương Ngái”, dần dần âm "Ngái” bị đọc chệch đi thành "Ngải”.

Đình Giang, xã Hương Ngải. Photo (c)2019 NCCong

Lược sử

Làng Hương Ngải có lịch sử hình thành từ thời Bắc thuộc: Tam vị Đại vương đã có công trong việc thành lập và bảo vệ làng nên được dân tôn thờ làm thành hoàng. Hiện nay trong Quán Làng vẫn lưu giữ được 9 đạo sắc phong của các các triều đại: sớm nhất năm Cảnh Hưng 44 thời Lê (1784), tiếp đến là Quang Trung 4 thời Tây Sơn (1791), muộn nhất là Duy Tân 3 thời Nguyễn (1910).

Cạnh nghề nông, Hương Ngải còn nổi tiếng là vùng đất khoa bảng. Hương ước quy định cấp ruộng học điền, giấy bút cho những trẻ thông minh nhà nghèo, miễn giảm phu phen tạp dịch cho những trò giỏi của làng. Ngoài đình, quán, chùa, miếu… làng có đủ văn chỉ, võ chỉ, văn bia, văn chuông.

Hương Ngải vẫn còn những bia đá có từ thời Nguyễn. Tấm bia Đại khoa khắc ghi những tên tuổi: Liêu Hiến Chương, Liêu Hiến Quang đỗ Thái học sinh triều Lý, Đỗ Hịch đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân; Phí Thạc đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân triều Mạc Minh Đức; Đỗ Thê đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân triều Lê Chính Hoà; Nguyễn Đăng Huân đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân triều Nguyễn Minh Mệnh. Nơi đây cũng chính là quê hương của nhà giáo tân học và lương y Nguyễn Tử Siêu (1898—1965). [1]

Sân đình Đông Thanh, Hương Ngải. Panorama ©NCCong 2019

Quán Làng

Theo Ngọc phả thì Quán Làng ra đời từ thời Bắc thuộc, thờ ba vị quan đô hộ vốn là ba anh em ruột gốc người Trung Quốc họ Chu, cùng với làng kề 2 bên là làng Thúy Lai và làng Canh Nậu. Ba vị đã mua ruộng hậu ở làng và có công trong việc an dân. Về sau, dân làng coi như Thành hoàng làng. Năm 2009, UBND thành phố Hà Nội đã công nhận Quán Làng là di tích kiến trúc nghệ thuật.

Mặt bằng xây dựng của Quán Làng có hình "chữ Lập" (立) bao gồm hậu cung, đại bái và tiền tế. Quán toạ lạc trên thế đất hình "chữ Tam" (三) gồm các quả gò: Nhất Tự phía trước, Hậu Trẩm phía sau, các gò Phong Tinh, Triệu Phục ở hai bên. Người xưa gọi đây là đất "ngũ tinh". Lễ hội làng chính thức diễn ra từ ngày 16 đến 19 tháng 7 âm lịch hàng năm.

Trong Quán Làng còn bảo tồn nguyên vẹn bức hoành phi viết bốn chữ "Mỹ tục khả phong” do vua Tự Đức ban tặng. Quán Làng là nơi thực dân Pháp phải ký văn bản bàn giao tỉnh Sơn Tây về cho chính quyền Việt Minh. Tới thập niên 2000 Quán Làng đã được tu bổ, trở thành một khu vực rộng rãi, thoáng đãng để dựng bia tưởng nhớ các chiến sĩ cách mạng đã bị Pháp tử hình tại đây ngày 28-5-1949.

Võ chỉ, xã Hương Ngải. Photo (c)2019 NCCong

Quán Nghinh Hương

Cầu Nghinh tức Quán Bảy Cây hay Quán Nghinh Hươnglà nơi diễn ra hoạt động đón rước linh thần Tam vị thành hoàng họ Chu về Quán Làng và các đình làng vào ngày hội hay còn gọi là lễ Nghinh Thần. Đây cũng là nơi đưa tiễn sĩ tử lên kinh dự thi và nghinh tiếp các vị tân khoa vinh quy bái tổ. Quán Nghinh còn được coi là liên quan đến tích chèo cổ Lưu Bình—Dương Lễ. Quán rộng 2.257m2. Nền gồm 2 cấp, có bốn cột đá ở nền thấp, cột cái và cột quân ở trên nền chính. Gian giữa của Quán có bệ thờ, hai gian bên lát gạch để trải chiếu khi làng có việc.

Quán Nghinh được xây với 4 cột đá và 16 cột gỗ, nhìn bên ngoài trông như 1 gian nhà, nhưng vào trong lại thấy 3 gian nhỡ chia thành 9 gian nhỏ. Số 9 còn gọi là số Lão dương, tượng trưng cho sự bền chắc. Theo “Tinh toạ đồ” trung tâm của quán ứng với Thất Tinh hay Bắc Đẩu là chòm sao sáng nhất tượng trưng cho văn chương thi hoạ. Người xưa trồng 7 cây lớn (4 trước, 3 sau), ứng với 7 ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm Trinh, Vũ khúc, Phá quân.

Quán Nghinh còn gắn với 2 trong 5 yếu tố của Ngũ hành là: Thuỷ (giếng nước) và Mộc (cổ thụ) để nhắc nhở dân nhớ tới cội nguồn. Người kính tổ tiên, cội rễ thì con cháu mới phát triển mãi muôn đời. Quán Nghinh được coi như một biểu tượng văn hóa của cộng đồng cư dân nơi đây. Năm 2009, UBND thành phố Hà Nội đã công nhận Quán Nghinh là di tích kiến trúc nghệ thuật.

Bản đồ trực tuyến

Làng nghề

Hương Ngải ngày nay vẫn còn khá nhiều những ngôi nhà xây bằng vật liệu truyền thống. Dọc theo đường ngõ xóm lát gạch, thấp thoáng những bóng cây cau và giàn trầu không xanh mướt phủ lên tường đá ong vàng xẫm, mang lại một vẻ đẹp độc đáo của làng quê xứ Đoài. Bên cạnh đó còn có những ngôi nhà gỗ vài trăm tuổi vẫn giữ được lối kiến trúc cổ kính với đá ong và gạch đất.

Từ xưa, dân Kẻ Ngái nổi tiếng là khéo tay trong việc làm nhà và họ đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về kiến trúc. Bởi vậy nhiều nơi trong xứ Đoài hễ có xây nhà hay tu sửa đình, chùa đều tìm đến họ. Một số công trình cấp quốc gia như phục hồi nhà Thái Học ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, làng cổ Đường Lâm, Yên Tử... cũng có sự góp mặt của thợ mộc Hương Ngải.

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1Nguyễn Tử Siêu đã dịch các tác phẩm như: Hán Sở tranh hùng, Tả truyện chú giải, Thuỷ Hử, Hải Thượng quyền thu, Đông y bảo giám, Châm cứu ca phú tuyên giải... và tự soạn nhiều sách y học: Y học tùng thư (14 quyển), Y học toàn thư (2 quyển), Khoa thuốc trẻ em sách thuốc sởi đậu, Sách thuốc đau mắt, Châm cứu sơ bộ thực hành, Sách thuốc phổ thông, Nguyên tắc trị liệu của Đông y…

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?