Hoa Ma Temple and Community Hall

Đền và đình Hòa Mã Temple et maison communale de Hoa Ma

, bởi Cong_Chi_Nguyen

Đền, đình Hòa Mã có từ thế kỷ XVIII. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1986). Địa chỉ: số 3 Phùng Khắc Khoan. Mã cộng: 2V83+73 Ngô Thì Nhậm, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam. Toạ độ: 21°0’57"N 105°51’9"E. Cách Hồ Gươm: 1,5km về phía nam. Điểm dừng bus lân cận: 32 Nguyễn Công Trứ (xe 23), 83a Trần Xuân Soạn (30), 149 Phố Huế (08, 31, 35a, 36, 38, 52, CNG03)

Lược sử

Đền, đình [và chùa] Hòa Mã là một cụm di tích tương truyền có từ rất lâu đời. Tên thôn Hòa Mã được đặt vào đầu thế kỷ 19, trước đó gọi là thôn Đổi Mã. Hiện nay cả ba di tích chung nhau một con ngõ nhỏ và chiếc cổng tại địa chỉ số 3 phố Phùng Khắc Khoan, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.

Thời Lê, nơi này thuộc địa phận thôn Đổi Mã, phủ Phụng Thiên, thành Thăng Long. Theo truyền thuyết, tên Đổi Mã xưa kia xuất phát từ việc mùa xuân vua Lê trên đường đi tế trời tại đàn Nam Giao (ở khoảng Vincom Center Ba Trieu bây giờ) tới thôn này thì thay y phục trước khi vào làm lễ. Các cụ già sở tại kể rằng trên gò Kim Quy ở đây từng có cung Đổi Mã, điện Canh Y (đổi áo).

Đình và đền được xây dựng cùng một lúc sau khi thành lập thôn. Theo tài liệu lưu tại đình, vị thành hoàng làng được tôn vinh là “Tiền triều thái giám quốc công”, một hoạn quan trông coi điện Canh Y của triều trước. Trong di tích hiện còn giữ được một bản sắc phong cổ nhất mang niên hiệu Cảnh Thịnh nguyên niên thời Tây Sơn (1793).

Nội dung bài văn ghi trên tấm bia ở sau chùa cho biết đình và đền Đổi Mã do ông Năm họ Đào xây dựng lên. Có thuyết cho rằng đó là Đào Duy Từ (1572-1634), con trai thứ 5 của vị chủ giáo phường Thăng Long [1]. Tuy vậy, theo thuyết khác thì đình và đền Đổi Mã có thể được xây dựng vào đời Lê Cảnh Hưng (1740-1788) bởi vì đạo sắc phong sớm nhất hiện còn ở đình ghi rõ niên đại là của đời Cảnh Thịnh thứ nhất (1793).

Đến năm 1831 vua Minh Mệnh đổi tên thôn là Hòa Mã, thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Các vua nhà Nguyễn cho đến Đồng Khánh 2 (1887) rồi Khải Định 9 (1924) đã ban cho vị thành hoàng làng này tổng cộng 12 đạo sắc phong.

Đền Hòa Mã còn gọi là Lưu Ly Điện và Tiên Thiên Từ. Trong đền có thờ công chúa Liễu Hạnh cùng Tam toà Thánh Mẫu thuộc tín ngưỡng truyền thống. Công chúa trở thành một trong "tứ bất tử" của dân gian và đã nhiều lần được vua chúa triều Lê, Nguyễn ban sắc phong là “Đệ nhất Thượng đẳng thần”.

Ngày 12-12-1986 quần thể đã được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia tại quyết định số 235-VH-QĐ của Bộ Văn hóa - Thông tin. Sau này do ẩm mốc làm hỏng, Bộ phải cấp lại quyết định.

Kiến trúc

Đền, đình [và chùa] Hòa Mã được xây dựng như một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh, tiêu biểu cho nhiều ngôi làng cổ của miền Bắc Việt Nam. Cụm di tích này từ xưa kia đã cùng nằm trên một gò đất thấp nhưng khá rộng. Chùa toạ lạc ở chính giữa, đình ở bên hữu và đền ở bên tả.

Đền Hòa Mã đã qua nhiều đợt trùng tu, lần sửa lớn nhất vào năm 1935 (có niên đại “Đại Nam Bảo Đại Ất Mùi niên” vẫn còn ghi trên thượng lương của toà tiền tế). Về sau vào cuối thế kỷ 20, ngôi đền được xây tách biệt ra với bốn bức tường quây và một cổng nhỏ mở ra hướng tây, trên đắp cuốn thư với 4 chữ Hán "Hòa Mã Linh Từ", dưới có đề tên "ĐỀN HÒA MÃ" bằng chữ Quốc ngữ.

Ngôi đền được xây theo kiểu "chữ Công", gồm hai dãy nhà ngang và một ống muống. Mái đền lợp ngói ta, trên bờ nóc có đắp lưỡng long chầu nguyệt với thân gầy nhỏ, vẩy đao to và dáng vẻ dữ tợn như hình rồng thời Nguyễn. Những mảng chạm sâu hình hoa lá, tứ linh, tứ quí là những đề tài phổ biến cũng của thời kỳ này.

Phía trước là động Sơn Trang. Tượng Đức Thánh Trần đặt chính giữa ban Công Đồng. Bức hoành phi treo phía trước đề 4 chữ Hán "Linh Thông Hiển Hóa", phía sau có đề 4 chữ Hán khác là "Diệu Hóa Trang Vi". Hai bên đặt Ban thờ Chầu bản Đền và Ban thờ Chầu đệ Tam. Pho tượng Mẫu Thượng Ngàn ngồi ở giữa, xung quanh có 12 tiên cô, tay cầm những nhạc cụ dân gian cổ truyền. Lại có 6 pho tượng các “Cậu”, kẻ cưỡi ngựa, người đi bộ, tay cầm những đồ lễ phục vụ sinh hoạt của Mẫu Thượng Ngàn. Toàn bộ y phục của nhóm tượng này đều là mầu xanh thẫm.

Bên cạnh động Sơn Trang có 2 tháp gạch hình trụ để thờ Trời Đất. Tháp xây 3 tầng, 8 mặt, tầng dưới cùng mở cửa tò vò, chỉ về bốn hướng nam - bắc - đông - tây. Tam tòa Thánh Mẫu ngự ở nơi sâu nhất và trang trọng nhất của đền. Trong khám kính lớn được chạm khắc tỉ mỉ có đặt tượng bà công chúa Liễu Hạnh với 2 nàng tiên nữ theo hầu là Thị Nương, Quế Nương.

Ngày 28-1-2010 đã khởi công đại trùng tu ngôi đình với kiến trúc vẫn giữ gần như nguyên theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Di sản

Đền, đình Hòa Mã đến nay vẫn giữ được khá nguyên vẹn các hiện vật và sắc phong. Đáng chú ý là một quả chuông bằng đồng đúc vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1844), trên thân chuông có ghi rõ 4 chữ “Thiên Tiên điện chung” (chuông điện Thiên Tiên). Ngoài ra còn có bộ sập thờ chân quỳ chạm trổ tứ linh, choé sứ, độc bình...

Tại cụm di tích này, nhân dân sở tại thường mở hội một năm hai lần vào ngày 15 tháng giêng và mồng 8 tháng 4 âm lịch. [2]

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Tái bút.

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Chú thích

[1Cha con Đào Duy Từ đã có công chiêu nạp các ca xướng lập ra làng Đổi Mã. Theo quy chế triều Lê-Trịnh, con nhà phường hát không được đi thi, dù Đào Duy Từ học giỏi nổi tiếng thời bấy giờ. Cuối cùng, ông đã trốn vào Nam, trở thành công thần bậc nhất của chúa Nguyễn và một danh nhân của Việt Nam.

[2Tham khảo: Hà Nội - Di tích Lịch sử Văn hóa và Danh thắng, Doãn Đoan Trinh, Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2002, tr.252-253.