Trang nhà > Đền miếu > Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ tương truyền có từ thế kỷ XVII. Thờ: Mẫu Liễu Hạnh. Lễ hội: 3/3 và 13/8 âm lịch. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1996). Địa chỉ: 52 Đặng Thai Mai, 3R49+2W Quảng An, Tây Hồ, Hanoi, Vietnam. Toạ độ: 21°03’43"N 105°49’20"E. Cách Hồ Gươm: 6km về phía tây-bắc. Điểm dừng bus lân cận: Đầu cuối 41 Nghi Tàm (xe 31, 41, 55a, 55b, 58)

Phủ Tây Hồ. Photo NCCong ©2019

Lược sử

Phủ Tây Hồ toạ lạc trên mũi của bán đảo Quảng Bá, xưa thuộc thôn Bảo Khánh, ấp Tây Hồ, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức; ngày nay mang số 52 phố Đặng Thai Mai thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP Hà Nội. Phủ thờ Công chúa Liễu Hạnh, từ cuối thời Lê trung hưng đã trở thành một trong “Tứ bất tử”, đến thời Nguyễn được vua phong là “Mẫu nghi thiên hạ”, đứng đầu trong tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trong phủ có bài thơ về thân thế của Mẫu:
Vân tác y tường phong tác xa
Chiêu du Đâu Xuất mộ yên hà
Nhân gian dục thức ngô danh tính
Nhất đại tiên nhân ngọc kinh hoa.

(Mây là áo gió là xe
Sáng chơi Đâu Xuất chiều mê yên hà
Người đời muốn hỏi tên ta?
Quỳnh Hoa tiên nữ mờ xa Thiên Đình).

Phủ Tây Hồ. Panorama NCCong ©2019

Lại có câu đối chữ Hán:
Tối linh nhi linh, Thiên Bản hồi hoàn chân cảnh tịnh
Chúng mẫu chi mẫu, Tây Hồ hương hoả biệt từ tôn.

(Linh thiêng của linh, Thiên Bản trang hoàng tiên phủ đệ
Mẫu trong các mẫu, Tây Hồ hương hoả chốn từ tôn.)
và câu đối chữ Nôm:
Thơ hoạ Tây Hồ, thần nữ vang lừng ba bẩy cõi
Danh truyền Nam sử, dấu tiên rực rỡ mấy ngàn thu.

Tương truyền phủ Tây Hồ ban đầu chỉ là một am nhỏ do Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) lập ra từ thế kỷ XVII rồi có lẽ được mở rộng thành phủ và trở nên nổi tiếng vào thời kỳ muộn hơn nhiều. Ngay trong các sách viết về di tích của vùng Thăng Long và Hà Nội xưa đã được xuất bản vào đầu thế kỷ XX như: Thăng Long cổ tích khảo, Long Biên bách nhị vịnh, Tây Hồ chí, Hà Thành linh tích cổ lục,... đều không thấy có ghi chép gì về phủ này.

Phủ Mẫu. Photo NCCong ©2019

Kiến trúc

Phủ Tây Hồ mới trùng tu, chủ yếu dùng bê tông giả gỗ với phong cách thời Nguyễn. Cổng phủ đắp mái lợp ngói ống giả, dưới diềm có 4 chữ “Phong đài nguyệt các” (Đài gió gác trăng), câu đối trên trụ kể sự tích Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh. Qua cổng vào sân lớn ven hồ với lầu Cậu, lầu Cô. Mặt trước phủ có cửa tam quan 2 tầng, mái giữa ghi chữ “Tây Hồ hiển tích” (Dấu để Tây Hồ); 4 cánh cửa giữa trên chạm tứ quý, dưới tứ linh, giữa đào thọ; sau cửa là phương đình 2 tầng, 8 mái rồi tiền tế, hậu cung sát nhau.

Tiền đường kiểu phúc ốc trùng thiềm, 8 mái vút lên theo lối lâu quán của Đạo giáo, thờ Ngọc Hoàng. Kế sau là trung đường 3 gian tường hồi bít đốc. Chính giữa thờ Tam vị thánh Mẫu bằng bài vị, bên tả treo chuông, bên hữu treo trống. Nơi tôn nghiêm nhất là cung cấm, sâu 2 gian, thấp hơn trung đường và bái đường, theo kiến trúc tiền tôn hậu ty, tiền động hậu tĩnh. Kế bên có toà điện 3 tầng, 8 mái, trong thì trên thờ Quan Âm, dưới là 3 động thờ Mẫu Thượng Ngàn và 24 cô sơn trang.

Sân nhỏ của phủ Tây Hồ. Photo NCCong ©2019

Di sản

Chuyện rằng Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng, có tội nên bị đày xuống trần gian. Nàng rong chơi khắp mọi miền, thấy đảo Tây Hồ là nơi sơn thủy hữu tình, bèn dừng chân mở quán tìm thú vui giữa trời đất linh thiêng. Phùng Khắc Khoan có lần đi thuyền dạo chơi trên hồ đã ghé vào đây cùng Liễu Hạnh vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” đến nay vẫn còn lưu truyền. Chỉ biết về sau khi Trạng nguyên trở lại tìm thì quán không còn, ngài bèn lập đền thờ người tri âm.

Hàng năm, tại phủ Tây Hồ có mở hội vào 2 ngày lễ chính là mùng 3 tháng 3 âm lịch và 13 tháng 8 âm lịch. Ngoài ra tại đây thường xuyên có lễ hầu đồng, hát văn. Ngày 13 tháng 2 năm 1996 phủ Tây Hồ đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Về sau, lại có một cây si cổ thụ tại sân phủ cũng được công nhận "Cây di sản Việt Nam". Ngoài ra liền kề bên phủ còn có ngôi đền Kim Ngưu thờ con Trâu Vàng theo truyền thuyết đã quần thảo làm đất sụt thành hồ.

Điện Sơn Trang. Photo NCCong ©2019

Các tư liệu Hán Nôm hiện có ở phủ Tây Hồ đều mới xuất hiện vào cuối thời Nguyễn. Nội dung các văn bia chỉ nói đến văn chỉ huyện Vĩnh Thuận, chùa Hoằng Ân và đền Bảo Khánh. Quả chuông ghi niên đại Duy Tân thứ sáu (1912) và 4 chữ “Bảo Khánh từ chung” (Chuông đền Bảo Khánh). Hai tấm bia đá tạo năm 1928 và 1937 dựng ở trong phủ cũng có tiêu đề “Bảo Khánh bản tôn chư tộc gia tiên công liệt vị” (Bài vị liệt tổ các dòng họ của thôn Bảo Khánh), “Bảo Khánh thôn linh từ bi hậu ký” (Bài ký bia hậu thần đền thôn Bảo Khánh). Vậy phủ xây trên nền Văn chỉ và đền Bảo Khánh chăng?

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong