To Lich River

Sông Tô Lịch

Rivière To Lich

Tô Lịch river
Nơi Tô Lịch đổ vào hồ Yên Sở. Ảnh ©2012 NCCong

Sông Tô Lịch nay còn lại gần 20km, bề ngang cũng bị thu hẹp, thuyền nhỏ chỉ đi được trong từng đoạn ngắn. Dòng sông từ Hồ Tây chảy song song với các đường Thụy Khuê, Bưởi, Láng rồi đi qua các phường Khương Đình, Kim Giang, Đại Kim, Thanh Châu, Huỳnh Cung, Tựu Liệt, Yên Ngưu, Văn Điển, Cổ Điển và đổ vào hồ Yên Sở, ngoài việc thông thủy với sông Nhuệ ở Hữu Hoà và Dương Hiền.

Đền Long Tỉnh, Thụy Khuê. Ảnh ©2015 NCCong

Lược sử

Xưa kia thuyền chở hàng và thuỷ quân có thể đi lại dễ dàng trên sông Tô và có hai cửa sông ăn thông với dòng Nhị Hà. Cửa thứ nhất là Thiên Phù ở phía tây-bắc Hồ Tây, đón nguồn nước từ sông Hồng chảy về vùng Nghĩa Đô, nhưng sông Thiên Phù bị cạn dần từ thời Lý. Cửa Hương Bài tức cửa Giang Khẩu, sau đổi tên là Hà Khẩu, bị Pháp lấp để xây khu phố mới.

Trong quá trình sông Hồng đổi dòng về phía đông-bắc và Hà Nội mở rộng đô thị, cả hai cửa sông này cùng nhiều hồ ao đã bị lấp dần và biến mất hoàn toàn vào đầu thế kỷ XX. Từ đó Tô Lịch trở thành một kênh nước thải lớn của thành phố, kéo dài từ hồ Tây đến hồ Yên Sở ở phía đông-nam Hà Nội. Hiện nay chủ yếu chỉ còn dấu tích sông Tô ở những địa danh như đình Hồ Khẩu, phố Chợ Gạo, phố Hàng Buồm...

Đền Đồng Cổ Kẻ Bưởi. Ảnh Đăng Định

Ngay từ thời Bắc thuộc, các sách Lương thư, Trần thư của Trung Quốc đã chép rằng năm 545 Lý Nam đế (tức Lý Bí) cho đắp dựng một toà thành bên dòng sông, được gọi là “Tô Lịch giang thành” (Thành sông Tô). Theo sách Việt Điện U Linh thì Tô Lịch là tên một vị hiền tài quê Thăng Long, có nhiều công đức giúp dân làng nơi ông sinh trưởng nên khi mất được dựng đền thờ và tôn kính là “Tô Lịch giang thần” (thần sông Tô).

Vào thế kỷ VIII và thứ IX, dọc bờ nam sông Tô thuộc vùng đất nội thành Thăng Long có thành Giao Châu còn gọi là Đại La Thành, cửa mở ra phía sông Hồng gọi là Đông La Môn. Lại có Tử Thành tức thành Con. Đến năm 858, Tử Thành được mở rộng, bên ngoài hào vây quanh thành được rào bằng tre, trúc nên gọi là thành Lặc Trúc. Trải qua những biến cố lịch sử, sông Tô Lịch từng mang nhiều tên khác như Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo, Kim Giang.

Chùa Mật Dụng. Ảnh P.Đ.Quang

Dưới thời nhà Lý, ở phía tây-bắc La Thành ven tường thành đất có ngôi chợ Hồng Tân, tức chợ Bưởi hiện nay. Sông Tô Lịch chảy qua đây, giao lưu với sông Thiên Phù ở ngã ba gần chợ. Bến Hồng Tân xưa sầm uất, đông vui người mua kẻ bán, thuyền bè xuôi ngược chở nông sản ở các vùng quê ngoại thành Thăng Long và nguyên vật liệu từ miền ngược như gỗ, nứa, tre, song, mây... cùng các đặc sản khác về đây. Thương lái mua, bán hoặc trao đổi hàng hoá với phố xá kinh kỳ được thuyền buồm, thuyền thoi từ bến Nứa (Long Biên) chở đến.

Dòng chảy

Nhánh sông Tô Lịch còn lại ngày nay coi như bắt nguồn từ làng Thuỵ Chương (đầu phố Ngọc Hà) chảy về hướng tây qua đền Voi Phục Thuỵ Khuê đến Chợ Bưởi thì quặt xuống phía nam. Theo dọc phố Thuỵ Khuê xưa kia có 3 làng nghề làm giấy dó cổ truyền là: Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thái (Bưởi). Làng nào cũng có đình riêng và cổng làng xây theo kiểu khác nhau. Trên phố này toạ lạc ngôi đền Vệ Quốc, được lập từ thời Lý, ghi niên hiệu Thiên Thuận (năm 1128). Đền thờ hai anh em Cống Lễ và Cá Lễ, hai nhân vật truyền thuyết có công đánh giặc, giữ nước và trị thủy giúp dân.

Chợ Bưởi và cổng đình Yên Thái cuối thế kỷ 19

Bên bờ sông Tô thuộc làng Đông Xã còn có đền Đồng Cổ, thờ thần núi Trống Đồng. Thời Lý—Trần, nơi đây hàng năm có mở hội thề trung hiếu với vua với nước. Ở đình làng An Thái gần chợ Bưởi có ban thờ thành hoàng Vũ Phục với sự tích hai vợ chồng người bán dầu lạc, quê ở xã Xuân Tảo, đã nguyện trẫm mình xuống sông Thiên Phù cho đất lấp cạn sóng lũ khỏi xói lở vào chân thành và cứu vua Lý khỏi bệnh đau mắt.

Khúc sông Tô ở mạn tây kinh thành chảy từ Chợ Bưởi xuống phía nam qua các làng nghề với nhiều nhà thờ họ của các dòng họ khoa bảng nổi tiếng và di tích đình, đền, chùa lên quan đến những vị thần hay người dân có công với nước. Ví dụ như đền Voi Phục thờ thần Linh Lang —Trấn tây Thăng Long, hay địa danh Cầu Giấy nhắc đến nghề làm giấy xưa kia của làng Yên Hoà. Đối diện với làng Cót là làng Láng Thượng ở bờ đông sông Tô, nơi có Chiêu Thiền Tự, tức chùa Láng thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh, chùa Nền thờ cha mẹ Đạo Hạnh, v.v..

Cổng làng Yên Thái. Ảnh ©2015 NCCong

Sông Tô chảy tiếp đến quãng làng Láng Trung lại ngoặt về hướng đông-nam, không xa đó là di tích Pháo đài Láng, nơi quân dân Hà Nội nổ những phát đạn đầu tiên vào các trại lính Pháp ở nội thành, mở màn ngày Toàn quốc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược (19-12-1946).

Pháo đài Láng do Pháp xây dựng vào năm 1940, trên năm mẫu ruộng ở làng Láng Trung. Trong pháo đài đặt bốn khẩu pháo cao xạ 75 ly, có đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn, hai khẩu đại liên và nhiều súng trường. Năm 1946, các chiến sĩ bộ đội và tự vệ xã Yên Lãng đã nhanh chóng làm chủ kỹ thuật, chuyển pháo cao xạ thành pháo mặt đất. Pháo đài đã lập chiến công vang dội bằng việc bắn rơi một máy bay Pháp vào ngày 21-12-1946.

Di tích Pháo đài Láng. Ảnh ©2013 NCCong

Khúc sông Tô ở phía nam thành Thăng Long chảy qua Trung Hòa, Thịnh Quang, Thượng Đình... rồi đến làng khoa bảng Kim Lũ là nơi sinh ra của các danh nhân văn hoá như: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thế, Nguyễn Trọng Hợp, v.v..

Tiếp đó, sông Tô chảy qua xã Thanh Liệt (quận Hoàng Mai) là quê hương và nơi có đền thờ Phạm Tu tức Lý Phục Man, nổi tiếng trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí ở thế kỷ VI. Nơi đây cũng có đền thờ Chu Văn An, một nhà giáo thời Trần đã từng dâng vua "Thất trảm sớ" xin chém đầu 7 viên quan đại thần tham nhũng. Nền trường dạy học của ngài nay là văn chỉ Chu Văn An cùng với bi ký còn lưu giữ của 30 vị khoa bảng huyện Thanh Trì.

Đoạn Tô Lịch chảy qua Thanh Liệt. Ảnh ©2012 NCCong

Từ ngã ba sông Tô thuộc Thanh Liệt có một nhánh rẽ về phía đông, chảy qua cầu Văn Điển vào hồ Yên Sở rồi được bơm ra sông Hồng. Sông Tô ngày nay thông thuỷ với sông Nhuệ ở hai điểm. Điểm thứ nhất ở cạnh cầu Hữu Hòa và đầu làng Tó, thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Điểm thứ hai ở cạnh đình Dương Hiền, thuộc xã Hòa Bình, huyện Thường Tín.

Từ đầu thế kỷ XX dòng sông Tô Lịch trở nên ô nhiễm nặng vì chủ yếu phải chở các loại nước thải công nghiệp và sinh hoạt từ nội thành mà hầu như không qua xử lý. Cuối những năm 1990, Hà Nội bắt đầu dự án nạo vét, kè bờ, xây đường, bắc cầu, nâng cấp cảnh quan và môi trường. Dù có nhiều nỗ lực cải tạo rất tốn kém, gần đây nhiều đoạn sông đã bị xâm lấn trở lại và vẫn bẩn. Đặc biệt, do lưu lượng nước thải đã lên đến khoảng 150.000m³ mỗi ngày nên sau khi đổ vào sông Nhuệ thì toàn bộ dòng nước hạ nguồn càng bị ô nhiễm hơn.

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?