Trang nhà > Đền miếu > Đền Lừ (Lư Giang Từ)

Lu Giang Temple

Đền Lừ (Lư Giang Từ)

Temple Lu Giang

Đền Lừ có từ năm 1399. Tên chữ: Lư Giang Từ. Thờ: Phạm Ngưu Tất, Phạm Tổ Thu, Thuỷ Tinh công chúa và Trần Hưng Đạo. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1994). Địa chỉ: đầu đường Hoàng Mai, XVP7+34 Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam. Toạ độ: 20°59’03"N 105°51’48"E. Cách Hồ Gươm: 6km về hướng nam. Điểm dừng bus lân cận: Đd 411 Nguyễn Tam Trinh (xe 26, 30, 38, 42), Đd 327 tổ 45 đường Hoàng Mai (106), Chợ Đầu mối phía Nam (99)

Cầu sông Kim Ngưu cạnh đền Lừ ©2013 NCCong

Địa lý

Các nhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều công cụ sản xuất thô sơ của thời tiền sử trong khu vực làng Hoàng Mai, cho thấy nơi đây từng thuộc về một địa bàn sinh tụ chính của cư dân Việt cổ. Dòng sông nhỏ xưa kia chảy qua phía đông huyện Thanh Trì rồi đổ ra sông Hồng có tên Lư Giang, chính là đoạn tiếp nối của sông Kim Ngưu từng nổi tiếng với truyền thuyết “Trâu vàng Hồ Tây”. Lư Giang tức là con sông Lừa, dân quen gọi là sông Lừ, vì thế ngôi đền Lư Giang còn có tên đền Lừ.

Theo truyền thuyết, trai gái đất này hai nghìn năm trước đã theo đô tướng Nguyễn Tam Trinh tham gia cuộc khởi nghĩa chống giặc Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Đến thời Lê sơ, làng Hoàng Mai cùng với Tương Mai, Mai Động và một số làng phụ cận đã hợp thành vùng Kẻ Mơ (Cổ Mai) nổi tiếng ở kinh thành. Sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi từng viết: “Vùng ấy, đất thì đỏ chín cùng sắc xanh đen, ruộng thì vào loại thượng hạng”. Ngày xưa, dòng sông Kim Ngưu như một dải lụa vắt ngang qua xã, vừa tưới nước cho đồng ruộng lại vừa cung cấp tôm cá cho nhân dân.

Mặt sau tam quan mới của đền Lừ ©2013 NCCong

Sang thời Lê, vùng Hoàng Mai có trạm Dịch Lư —một dịch trạm lớn nằm trên đường thiên lý, gần cầu qua sông Lư Giang đi về các tỉnh phía nam. Theo văn bia “Dịch Lư kiều bi ký” do Trạng nguyên khoa Đinh Sửu Nguyễn Khắc Nhu soạn vào năm Phúc Thái thứ 4 thì lúc bấy giờ cầu Dịch Lư vừa là một phương tiện giao thông, vừa là một cảnh đẹp ở phía nam kinh thành. Trước đó cầu bị hư hỏng, mùa xuân tháng 2 năm Phúc Thái thứ 2 dân làng Hoàng Mai đã đóng góp tiền của để làm lại, tháng 11 năm sau thì hoàn thành. Năm 1646, dân làng tạc tấm bia đá lớn dựng trong đền Lư Giang bên cầu để ghi lại sự kiện và biểu dương những người tham gia đóng góp. Gần 4 thế kỷ sau, đền được đại trùng tu rồi xây thêm một phương đình nhỏ cạnh cổng cho bia này cùng các bia công đức mới.

Có câu ca dao:
"Nhĩ Hà quanh bắc sang đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này"

Nhĩ Hà tức khúc sông Hồng uốn lượn bao quanh phía bắc và phía đông kinh đô cùng với Kim Ngưu, Tô Lịch là hai dòng sông con chảy từ phía tây hoàng thành xuống phía nam, đã làm nên "tứ giác nước văn hoá" của Kẻ Chợ Thăng Long xưa. Từ thế kỷ XX, thành phố càng mở rộng, Kim Ngưu, Tô Lịch đều bị thu hẹp, thậm chí bị lấp mất một đoạn và trở nên những kênh nước thải, ô nhiễm nặng nề không đi thuyền được nữa.

Bia cầu Dịch Lư. Photo ©2019 NCCong

Lược sử

Tương truyền năm 1389 Trần Khát Chân[1] đã cho xây dựng “ngôi đền Vua” để thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Năm 1399, sau khi ngài cùng 2 tuỳ tướng là Phạm Ngưu Tất và Phạm Tổ Thu bị giết hại, dân làng đã xây thêm đền Lừ có chung cổng ngõ và sân vườn với đền Vua để thờ cả ba vị. Cuối thời Lê, đền Lừ thờ thêm công chúa Thủy Tinh. Khoảng giữa thế kỷ XX, đền Vua bị bỏ, đồ thờ ở đó được rước sang đền Lừ, do đó ở đền Lừ có thờ vọng Đức Thánh Trần.

Văn bia và truyền thuyết dân gian ở địa phương cho biết Thủy Tinh công chúa thuộc dòng dõi tướng Hoàng Đình Ái. Bà tên là Hoàng Thị Chung, sống ở đầu thế kỷ XVIII, có công giúp làng và dân trong vùng bị bão lụt nên sau được thờ cùng với Mẫu Thủy tại đền Lừ. Trong tâm thức truyền thống của người Việt, Mẫu Thủy là một trong ba vị nữ thần quan trọng nhất của Tam tòa Thánh mẫu (Thiên, Thủy, Địa). Để ca ngợi công đức điện thần, có hai bức đại tự treo trong đền ghi:

  • “Linh sảng thức bằng” (Sáng suốt, thông tuệ, làm khuôn mẫu cho đời)
  • “Thao thủy khôn tinh” (Công đức sánh với nước lớn mênh mông).
Tiền tế đền Lừ ©2013 NCCong

Kiến trúc

Đền Lư Giang bị thu hẹp trong quá trình đô thị hoá, ít nhất cũng đã mất mảnh đất trước cổng cũ và đường phố nay chỉ cách bức bình phong có mỗi một vỉa hè. Bình phong này xây liền với bức tường bịt kín mặt đền, bên phải tường là dòng sông Lừ. Cổng mới mở ở bên trái, du khách đi qua cổng và nhà bia sẽ vào sân tiền tế.

Sau nhiều lần trùng tu, đền hiện gồm nhiều nếp nhà nhỏ kế tiếp nhau ở dưới bóng cây cổ thụ xanh mát nhưng có lẽ chỉ toà điện chính là còn giữ được nét kiến trúc xưa. Mặt đền Lừ nhìn về phía đông nam ra hồ bán nguyệt và bức bình phong cũ. Tòa tiền tế gồm 3 gian 2 chái với các góc đao cong. Bờ nóc được trang trí đôi rồng chầu mặt trời và hai đầu kìm hướng vào giữa, đầu trắng hoa lam trên toàn bộ thân. Phần khung gỗ của tòa tiền tế có 3 vì đều làm theo dạng cột trốn quá giang. Tiếp sau tòa tiền tế là một lớp nhà ngang gồm ba gian hai chái với các bộ vì kết cấu “chồng rường giá chiêng,” tường hồi bít đốc trơn soi chỉ.

Chính điện đền Lừ

Di sản

Tại đền Lư Giang hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị: 3 đạo sắc do các vua Nguyễn phong cho Mẫu Liễu; hai quả chuông đồng đúc thời Nguyễn; 3 bộ long ngai bài vị; 8 khám thờ gỗ sơn son thếp vàng; 7 bức hồng phi; 8 đôi câu đối gỗ cổ sơn thếp; 4 tấm bia đá thời Lê và thời Nguyễn.

Hàng năm, hội đền Lư Giang được mở hai lần vào tháng tám và tháng ba. Hội tháng tám là hội chính, được tổ chức trong ngày húy kỵ của Quốc công tiết chế Hưng đạo Ðại vương Trần Quốc Tuấn (20 tháng 8 âm lịch). Năm 1994 đền được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Trong những ngày hội, ngoài những nghi thức tế lễ trang trọng, dân làng Hoàng Mai còn tổ chức rước thần từ đền tới đình và ngược lại. Đây là dịp để con cháu các đời sau tỏ lòng thành kính với vị anh hùng dân tộc đã có ân đức hộ quốc an dân. Ngoài ra, vào ngày thường thì những vị nữ thần dường như lại có đông con nhang đệ tử hơn những vị nam thần.

Sân đền Lư Giang. Panorama: NCCong ©2014

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến

Chú thích

[1] Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 23-1-1390, thượng tướng Trần Khát Chân đã cho bắn tập trung vào soái thuyền giết chết vua Chế Bồng Nga, thuỷ quân Chiêm Thành phải bỏ cuộc tấn công Thăng Long và quay về nước. Vua Trần phong đất ở Cổ Mai (tức vùng Tương Mai, Mai Động, Hoàng Mai ở phía đông-nam Đại học Bách khoa Hà Nội) cho Trần Khát Chân làm thái ấp. Đến năm 1399, sau vụ mưu sát Hồ Quý Ly ở Đông Sơn (Thanh Hóa) không thành, Trần Khát Chân bị sát hại, thái ấp cũng bị triệt phá.


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong