Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Giới thiệu > Con người > Chính quyền họ Khúc (905–930)

Khuc’s Family Government

Chính quyền họ Khúc (905–930)

Pouvoirs des Khuc

Thứ Tư 17, Tháng Bảy 2019

Khúc Thừa Dụ 曲承裕 tự giành quyền cai quản Giao Châu trong 3 năm 905–907, đóng tại thành Đại La, sau được tôn Khúc Tiên Chủ, là người đặt nền móng cho sự độc lập của dân tộc Việt. Con ngài là nhà cải cách Khúc Hạo 曲顥 kế vị đến năm 917 (Khúc Trung Chủ). Cháu ngài là Khúc Thừa Mỹ 曲承美 kế vị đến năm 930 (Khúc Hậu Chủ)

Khúc Thừa Dụ

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư và Việt sử thông giám cương mục Khúc Thừa Dụ là một hào trưởng ở Hồng Châu, thuộc địa phận Bàng Giang, Ninh Giang (ngày nay được cho là làng Cúc Bồ, xã Kiến Quốc ven sông Luộc, thuộc huyện Ninh Giang, Hải Dương). Ngài xuất thân từ một gia tộc giàu mạnh và sống khoan hoà, được dân chúng địa phương kính nể.

Vùng đồng bằng sông Hồng và lân cận thời bấy giờ bị chính quyền nhà Đường cai trị, gọi là Tĩnh Hải quân. Năm Kỷ Mão (679) vua Đường Cao Tông chia làm 12 châu, 59 huyện và đặt An Nam đô hộ phủ. Hơn 200 năm sau, sang đầu thế kỷ IX có loạn to tại Trung Quốc, quý tộc và giặc cướp nổi lên khắp nơi. Vua nhà Đường chỉ còn cầm quyền trên danh nghĩa, tại các địa phương thế lực ai mạnh thì người ấy xưng đế, xưng vương. [1]

Năm Bính Dần (906), nhân khi Giao Châu gặp loạn, Khúc Thừa Dụ đứng ra dẹp yên rồi tự nắm quyền cai trị tại thành Đại La. Vua Chiêu Tuyên nhà Đường đang ở thế yếu không ngăn được, đành thuận cho ngài làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ. Năm 907 nhà Đường mất ngôi, vua Hậu Lương là Chu Ôn lên thay, phong Lưu Ẩn làm Nam Bình Vương, kiêm chức Tiết độ sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải quân, mưu mô chuẩn bị chiếm lại Giao Châu.

Khúc Thừa Dụ đóng quân ở La Thành, bên trong vỗ về dân chúng, bên ngoài khéo léo ngoại giao. Ngài dùng danh nghĩa "xin mệnh nhà Đường" buộc triều đình phương Bắc phải công nhận chính quyền của mình. Ngày 7 tháng 2 năm 906, vua Đường phong thêm tước "Đồng bình chương sự" cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ.

Ngài tự phong cho con là Khúc Hạo chức vụ "Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu", tức người chỉ huy quân đội và sẽ kế vị quyền Tiết độ sứ Tĩnh Hải. Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất. Trong Việt giám thông khảo tổng luận Lê Tung gọi Khúc Thừa Dụ là Khúc Tiên Chủ 曲先主. Sử sách đánh giá ngài là người đặt nền móng cho sự độc lập bền lâu của dân tộc Việt sau hơn nghìn năm bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ.

Thờ phụng

Tháng 1 năm 1998 nhà nước đã xếp hạng Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia cho đình Cúc Bồ (xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, Hải Dương) và đền thờ Khúc Thừa Dụ.

Khúc Hạo

Dưới thời thuộc Đường có 4 cấp hành chính là Châu, Huyện, Hương, Xã nhưng ở Giao Châu mới chỉ đặt ra các chức quan quản lý đến cấp Hương. Kế nghiệp Khúc Thừa Dụ năm 907 là Khúc Hạo 曲顥. Nhằm giảm tình trạng phân tán quyền lực vào tay các thủ lĩnh địa phương, ngài đã tiến hành cải cách, xây dựng chính quyền thống nhất từ trung ương đến xã gồm 5 cấp. Năm Đinh Sửu (917) ngài mất, sau được suy tôn Khúc Trung Chủ dù chưa từng xưng đế hay vương.

Theo sách An Nam chí lược, Khúc Hạo người Giao Chỉ, cuối đời Đường làm Tiết độ sứ thay cho Độc Cô Tổn. Ngài đổi các hương ở các huyện làm giáp, đặt mỗi giáp một quản giáp và một phó tri giáp để giữ việc đánh thuế; giữ chức Tiết độ sứ được bốn (?) năm thì mất.

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm 907, sau khi nhà Đường mất, nhà Hậu Lương lên thay, cho Quảng Châu Tiết độ sứ là Lưu Ẩn kiêm chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, tước Nam Bình vương. Khi ấy Ẩn chiếm giữ Phiên Ngung, người Giao Châu là Khúc Hạo chiếm giữ châu trị, tự xưng là Tiết độ sứ, có ý mưu đồ lẫn nhau. Khúc Hạo có chính sách ngoại giao "khuyến hiếu", giữ được trung lập với cả hai nhà nhà Hậu Lương và Nam Hán ở Trung Quốc thời đó.

Trong Việt giám thông khảo tổng luận Lê Tung chép rằng Khúc Hạo có phong thái của ông nội (?), trù hoạch quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi các nước Bắc triều, là bậc chúa hiền của nước Việt, đã định ra hộ tịch và các chức quản giáp, chế độ mới lập ít nhiều, nửa chừng ngài mất. Theo sách An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp trước đây do Cao Biền đặt thì toàn bộ Tĩnh Hải quân có 314 giáp.

Theo Việt Nam sử lược, Khúc Hạo đã lập ra lộ, phủ, châu, xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa đổi việc thuế khoá và sưu dịch. Khi đó nhờ các sĩ dân Trung nguyên di cư tránh loạn xuống phía Nam nên Quảng Châu mạnh lên. Tháng 9 năm 917, em Lưu Ẩn là Lưu Nghiễm (lên thay từ năm 911) tự xưng đế, lập ra nước Đại Việt tại Quảng Châu, sau đổi Nam Hán. Khúc Hạo cho Khúc Thừa Mỹ đi sứ sang Quảng Châu kết hiếu nhưng thực ra cốt để thăm dò tình hình.

Khúc Thừa Mỹ

Nhờ ngoại giao mềm dẻo của Khúc Hạo mà Nam Hán không gây hấn với Tĩnh Hải quân. Cháu của Khúc Thừa Dụ là Khúc Thừa Mỹ 曲承美 đi sứ đến cuối năm 917 khi trở về thì Khúc Hạo mất. Khúc Thừa Mỹ thay đổi chính sách cho nên đánh mất dần sự ủng hộ của dân, bên ngoài lại nhận chức Tiết độ sứ từ nhà Hậu Lương chứ không thừa nhận nhà Nam Hán. Vua Nam Hán sai Lý Khắc Chính cầm quân sang đánh. Khúc Thừa Mỹ bị bắt đưa về Phiên Ngung, kết cục ra sao không rõ, đời sau được suy tôn Khúc Hậu Chủ.

Vua Nam Hán cử Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu. Các sách Tư trị Thông giámTân Ngũ Đại sử đã ghi sự kiện đó xảy ra năm 930. Hai cuốn sử cổ này của Trung Quốc đều ra đời trước Đại Việt Sử ký Toàn thưKhâm định Việt sử Thông giám cương mục của Việt Nam nên được các nhà sử học hiện đại coi là nguồn thông tin đáng tin cậy hơn.


BTV Đông Tỉnh NCCong


[1Năm 907, nhà Đường hoàn toàn tan rã. Sau đó, liên tiếp các nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau nắm chính quyền nhưng đều không lâu. Giai đoạn này kéo dài tổng cộng 52 năm, lịch sử Trung Quốc gọi là thời Ngũ Quí hay Ngũ Đại.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?