Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Đình làng > Đình Bạch Trữ

Bach Tru Village Hall

Đình Bạch Trữ

Maison Communale de Bach Tru

Chủ Nhật 21, Tháng Bảy 2019

Đình Bạch Trữ có từ cuối thế kỷ 17 và đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Thờ: Thành hoàng Mỵ Nương (vợ thần núi Tản Viên) và Hoàng Cống (tức Cống Sơn, quân sư của Hai Bà Trưng). Xếp hạng: Di tích quốc gia (1993). Địa chỉ: thôn Bạch Trữ, xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh, TP Hà Nội. Tọa độ: 21°13’36"N 105°40’42"E. Cách Hồ Gươm: hơn 40km về phía tây-bắc. Điểm dừng bus lân cận: Trạm thủy sản Mê Linh (xe 63)

Bản đồ trực tuyến

Làng Bạch Trữ

Làng Bạch Trữ xã Tiến Thắng ở ven bờ nam sông Nguyệt Đức tức Cà Lồ, thuộc vùng đất cổ huyện Mê Linh, xưa là Châu Phong, quê hương của Hai Bà Trưng. Vua Bà từng đóng đô ở Hạ Lôi, cách Bạch Trữ hơn 1km. Bạch Trữ nghĩa là cỏ Trữ Trắng, một thứ cỏ lai thời xưa mọc rất nhiều ở vùng này. Hiện nay làng có trên 16.000 dân mang 18 họ khác nhau, sống trong 5 xóm tương ứng ngũ hành (Rọ, Minh Hương, Minh Tảo, Ngọc Trì) và chia làm 8 giáp.

Làng có một số tục lạ. Sau khi về nhà chồng, cô dâu chỉ ở đó ban ngày, chập tối về nhà mình ngủ. Cô phải trồng dâu, nuôi tằm, kéo kén, xe tơ, dệt lụa sao đủ may cho mỗi người nhà chồng một bộ quần áo lụa. Trước đây tục lệ này kéo dài từ 1 đến 3 năm, từ 1970 rút xuống còn 1 đến 3 tháng, đến nay đã dần xóa bỏ. Cô dâu sau khi sinh con đầy tháng thì đến giữa tháng sau sẽ về nhà mình “ăn chực” mẹ đẻ khoảng 45 ngày rồi mới trở lại nhà chồng.

Mỗi năm ở Bạch Trữ có năm lễ hội chính (xem chi tiết ở dưới). Nhà có người chẳng may chết trùng dịp làng vào hội thì phải chờ hết hội mới được phát tang. Đám tang khi đi ngang qua đình không được thổi kèn gõ trống. Lo công việc tang hoàn toàn do người trong họ đảm nhiệm, người làng chỉ đến phúng viếng và đi đưa đám. Riêng bà con cùng ngõ có lệ tự đến nhà đám xin khai huyệt cho người mất. Huyệt đào sâu, khơi 3 cấp gọi là để nhớ người đã khuất. Cỗ tiệc chỉ ngồi bốn người một mâm. Các cụ đã lên lão 70 và khao làng rồi mới được ngồi đống đôi ở đình trong.

Đình Bạch Trữ xây vào cuối thế kỷ 17; thờ Mỵ Nương (vợ thần núi Tản Viên) và Hoàng Cống (tức Cống Sơn, quân sư của Hai Bà Trưng) làm thành hoàng làng; trước đó đã có một ngôi nghè nhỏ nay gọi là đình Tây. Năm 1993 Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng đình là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Từ 2015 đình đã được nhà nước phê duyệt dự án tu bổ tất cả các hạng mục gồm 3 tòa: tiền tế, đại đình, hậu cung và 2 ống muống.

Kiến trúc

Đình ban đầu chỉ có mặt bằng "hình chữ Nhất" với tòa đại đình ở giữa, về sau mới dựng tiếp tòa tiền tế và tiếp sau là hậu cung. Cả 3 tòa được nối với nhau bởi 2 ống muống để tạo nên hình thức mái theo kiểu chữ “Vương”, nền chữ “Tam”. Trước đình có hồ nước, kế đến là bình phong kiểu cuốn thư có hình cành trúc mai sum họp. Phía sau là một sập thờ làm kiểu chân quỳ dạ cá đắp nổi hình dơi tượng cho ngũ phúc lâm môn (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh) và tiếp nữa là một nghi môn tứ trụ.

Sau một khoảng sân hẹp là tòa tiền tế 5 gian 2 dĩ với bộ mái 2 tầng đồ sộ và những nét kiến trúc của thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn. Tòa đại đình 3 gian 2 chái 2 dĩ, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17 tập trung ở 2 cốn ngoài của gian giữa, các đầu dư chính và một số kẻ với đề tài chạm khắc cơ bản là rồng. Những đề tài về con người tuy không nhiều nhưng lại rất đáng quan tâm. [1].

Phần cung cấm nằm gọn trong không gian 4 cột cái gian giữa, được bao ván kín, có sàn thờ, được nâng cao và nằm lọt trong tòa hậu cung 5 gian tường hồi bít đốc. Trên ban thờ chính, hai bên là 8 vị tướng hầu được vẽ dưới hình thức tả văn hữu võ, quan văn đội mũ cánh chuồn, cầm những hòm sách, bút, quạt; quan võ đội mũ kim khôi và vác đại đao.

Lễ hội

  • Mồng 10 Tháng Giêng: ngày sinh của Đức Thánh Cống Sơn, có hát chèo tàu và đánh vật đến hết rằm. Hằng ngày có lễ tế ở đình.
  • Tháng Hai: lễ khánh hạ của Đức Bà Công chúa, từ mồng 1 đến mồng 10 làng mở hội, lễ vật cúng do các giáp lo liệu. Ba ngày đầu là cuộc rước Bà từ miếu thờ về đình làng để hội tế, do 16 chàng trai khoẻ mạnh, áo quần mới, chít khăn mỏ quạ làm đô tuỳ rước kiệu, các bô lão túc trực ở đình để tiếp khách. Sau đó làng tổ chức các hội vui như đánh cờ người, đánh đu, thả vịt xuống sông, bắt chạch trong chum [2].
  • Tháng Tám: mở hội từ chiều mồng 9 đến hết rằm nhân ngày sinh Đức Bà Công chúa. Tổ chức rước kiệu từ miếu về đình để tế lễ vào ngày mồng 10. Ngày 15 tế tạ, rước kiệu từ đình về miếu; lúc chuẩn bị rước kiệu về miếu thì ở sân đình tổ chức tung bông. [3]
  • Tháng Một: 8 giáp làm 8 cỗ bánh dầy mang ra đình cúng Đức Bà và thi tài. Các em trai đủ 3 tuổi trở lên được gia nhập giáp hay gọi là vào làng. Gia đình có cơi trầu trình cai giáp và cậu bé được chia phần bánh dày. Từ đó cho đến 10 năm sau, mỗi cậu bé phải nộp cho giáp một nồi nếp cái (làm được 1 thùng bánh dày loại nhỏ), cho đến 25 tuổi mới được ra ăn cỗ ở đình làng.
  • 11 Tháng Chạp: mở cỗ giỗ trận tưởng nhớ ngày quân Mã Viện tràn được vào làng và sát hại toán quân của ngài Hoàng Cống sau khi họ anh dũng chống cự suốt trong 52 ngày đêm.

Di tích lân cận

  • Đền Mê Linh thờ Hai Bà Trưng: thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh.
  • Đình Bồng Mạc: thôn Bồng Mạc, xã Liên Mạc.
  • Đình Hương Canh: Thị trấn Hương Canh, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đình Ngọc Canh: Thị trấn Hương Canh, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đình Yên Mạc: thôn Yên Mạc, xã Liên Mạc.

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1Chẳng hạn như bức cốn ngoài bên trái gian giữa, ở con rường trên cùng, được đặt trên mình rồng thân rắn không vẩy là hình đôi trai gái tình tự mà nam là một ông già râu dài còn nữ là một cô gái quá trẻ. Trên nền rồng ở ván nong của xà nách có cảnh bà vợ ôm con một tay như đẩy chồng ra; cạnh đó là cảnh đôi trai gái ngồi ôm ấp nhau; hình tượng vũ công đội mũ tỳ lư mặc áo váy tỉa tót kỹ càng và hình ảnh nam múa quạt, nữ đeo túi ngả theo được chạm ở hai bên đầu kẻ phía ngoài bên phải; ở một đầu kẻ trước của gian bên trái lại có cảnh một ông lão ngồi câu cá với giỏ vịt để bên cạnh.

[2Trò này ở Bạch Trữ kéo dài vì chỉ có 1 chum, các đôi trai gái phải xếp hàng và quàng vai nhau mà bắt chạch.

[3Sáng mồng 10 các giáp mang lễ vật ra đình làng và rước đức Bà về đình. Người ta kê một bục cao ở giữa sân, chủ tế đứng cạnh chuẩn bị tung bông. Bông được làm bằng một đốt tre non, tước một đầu thành những mảnh xơ trắng – tựa như chỉ bông, được buộc lại thành búi. Một hồi trống dứt, chủ tế tung bông lên cao, mọi người dõi theo đường rơi của bông mà xô đẩy chen lấn nhau, cướp cho bằng được dù là một mẩu của bông để đem về nhà, đặt lên bàn thờ, đốt ba nén hương và coi như gặp may mắn.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?