Trang nhà > Đình làng > Đình Mễ Trì Thượng

Me Tri Thuong Community Hall

Đình Mễ Trì Thượng

Maison communale de Me Tri Thuong

Đình Mễ Trì Thượng có từ thế kỷ XIX. Thờ: thần núi Cao Sơn, Quý Minh, vua Lý Nam Đế, Lý Phật Tử... Xếp hạng: Di tích quốc gia (1992). Địa chỉ: ngõ 112 Mễ Trì Thượng, 2Q4H+XR Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam. Toạ độ: 21°00’27"N 105°46’46"E. Cách Hồ Gươm: 11km về phía tây-nam. Điểm dừng bus lân cận: ngã phố Mễ Trì—Vũ Quỳnh (xe 50), Phạm Hùng - Đỗ Đức Dục (05, 29, 30, 33, 39, 44, 50, 57, 60)

Cổng đình Mễ Trì Thượng. Photo NCCong ©2015

Lược sử

Xưa kia vùng Mễ Trì chủ yếu là đồng ruộng trũng, ven bờ đầm trước cổng làng có gò đất trông như con rùa đang bò từ dưới nước lên cạn, thế phong thủy phát đạt. Thời Lý, gò đất này được gọi là Quy Sơn (Núi Rùa). Mễ Trì lại có giống gạo tám thơm ngon được chọn để tiến vua, cho nên vua đã đặt tên là làng Mễ Trì (Ao Gạo). Đến đầu thời Nguyễn, dân cư càng đông đúc, Mễ Trì chia làm hai thôn Thượng và Hạ, thuộc tổng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.

Năm 1426, một đội giặc Minh của tướng Lê Thụ đóng ở Mễ Trì đặt sở chỉ huy trên gò Quy Sơn và một đội do tướng Phương Chính chỉ huy đóng ở Phú Đô nhưng cuối cùng chúng cũng bị đánh tan khi nghĩa quân Lam Sơn tiến ra vây đại binh của Vương Thông trong thành Đông Quan. Năm Nhâm Tý niên hiệu Thuận Thiên thứ 5 (1432) vua Lê Thái Tổ đã cấp tiền cho dân Mễ Trì Thượng và Mễ Trì Hạ xây mỗi thôn một ngôi đình mới ở chỗ ta thấy hiện nay. Làng này từng là nơi giấu một cánh quân Tây Sơn của đô đốc Đặng Tiến Đông khi chuẩn bị đánh úp đồn Khương Thượng vào dịp Tết Kỷ Dậu năm 1789, lập nên chiến công Đống Đa lẫy lừng.

Ao đình Mễ Trì Thượng. Photo NCCong ©2015

Thôn Mễ Trì Thượng tên Nôm vốn là Kẻ Mẩy, nay đã đô thị hoá và trở thành bộ phận của phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Đình Mễ Trì Thượng được xây lại vào thế kỷ 19. Bên trong hậu cung trước kia thờ hai vị thần núi Cao Sơn và Quý Minh, theo thần phả là con của Quốc tổ Lạc Long Quân và Quốc mẫu Âu Cơ. Về sau dân làng phụ thờ thêm "Quốc vương thiên tử Lý Bí, Diêm La Thiên tử Lý Phật Tử, Hoàng thái hậu Phương Dung, Quốc vương Thiên tử Đỗ Tam Lang, Đại tướng quân Đông Hải".

Kiến trúc

Mặt đình Mễ Trì Thượng quay hướng đông bắc, trước sân có cổ thụ và bức bình phong lớn, sau bình phong là hồ bán nguyệt nhỏ. Đình có mặt bằng xây dựng theo hình "chữ Đinh". Tam quan nhìn về hướng tây bắc, hai cổng phụ xây 2 tầng 8 mái chồng diêm, đắp ngói ống giả; trang trí hình hổ phù đội mặt trời lửa; ngoài ra còn có các đề tài rồng cuốn thủy, tứ quý, tùng, điểu, hoa lá, ngựa thờ.

Sân đình Mễ Trì Thượng. Panorama NCCong ©2015

Đại đình 7 gian, cửa gỗ bức bàn, tường hồi bít đốc liền trụ biểu. Bộ vì kèo làm kiểu “thượng chồng giường giá chiêng, hạ xà nách”, bẩy hiên, phần mái kiểu “thượng tứ hạ ngũ”. Kiến trúc mang phong cách thế kỷ 19 với trang trí hổ phù đội mặt trời lửa và các chi tiết vân mây, lá lật, tùng, mai hóa long và cảnh rồng cuốn thủy v.v… Các trang trí đắp vữa trên trụ biểu và các mảng chạm khắc gỗ ở đại đình đều khá trau chuốt với nhiều đề tài phong phú.

Hậu cung nối với gian giữa đại đình, sâu 4 gian, gian cuối cùng là cung cấm. Bộ vì kèo làm theo kiểu “chồng giường giá chiêng, xà nách”. Nghệ thuật chạm khắc ở đây có vẻ đơn giản hơn với những đề tài mang tính dân gian như người cưỡi ngựa, cua, cá, sóng nước và tứ linh, tứ quý, tất cả đều mang phong cách thế kỷ 19.

Đại đình Mễ Trì Thượng. Photo NCCong ©2015

Di sản

Trong đình Mễ Trì Thượng hiện lưu giữ nhiều cổ vật có giá trị như cuốn thần phả, 01 bia đá và 13 đạo sắc phong có từ thời Nguyễn, sớm nhất là năm 1821, muộn nhất năm 1924. Ngoài ra còn có 06 bức hoành phi, 09 đôi câu đối, 02 bộ cửa võng, 01 quán tẩy, 03 bộ kiệu giá ngự, 01 long đình, nhang án, 01 bộ bát bửu, 01 sập thờ, 01 bộ đồ rước, 01 tấm bia hậu, tất cả đều ghi niên đại thế kỷ 19.

Lễ hội đình được dân làng tổ chức hàng năm vào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Trước kia theo truyền thống trồng cấy lúa nước, đình còn là nơi diễn ra lễ cầu mưa khi trời làm hạn hán. Ngày 22-4-1992 đình [và chùa] Mễ Trì Thượng đã được Bộ Văn hóa–Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử—kiến trúc—nghệ thuật quốc gia.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong