Ha Noi Panorama

Chu du cùng Nguyễn Chí Công

Trang nhà > Vườn Thiền > Đông nội thành > Chùa Kim Quan

Kim Quan pagoda

Chùa Kim Quan

Ấn Quang Tự

Thứ Sáu 25, Tháng Mười Hai 2020, bởi Cong_Chi_Nguyen

Chùa làng Kim Quan có từ thời Lê. Tên chữ: Ấn Quang Tự. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1992). Vị trí: 3W52+69, P. Việt Hưng, Q. Long Biên, TP Hà Nội. Cách BĐX Bờ Hồ: 7km (hướng 2h). Trạm bus lân cận: O6 Big C Long Biên (xe 11), 351 Ngô Gia Tự (xe 10A, 10B, 15, 17, 42, 43, 48, 54)

Chùa Kim Quan

Lược sử

Dưới triều vua Lê Hiến Tông (1498-1505), có vị Phò mã Đô úy Lê Đạt Chiêu, tước Lâm Hoài bá, được giao trông nom việc lập các sở đồn điền ven Thăng Long. Thấy làng Bạch Thổ (“đất trắng”, nằm ở ngoài bãi sông Hồng, giữa Bát Tràng và Giang Cao hiện nay) nhiều năm bị nước lũ sông Hồng gây lở đất, mất mùa, bá tước bèn tâu vua cho di dân khai khẩn vùng phía nam sông Đuống còn đang bỏ hoang. Lại có quan Trịnh Đồ Tư rất giỏi phong thuỷ đã cắm đất, định hướng cho dân dựng nhà cửa, hình thành làng xóm và đặt tên là Kim Quan (cửa vàng).

Chùa Kim Quan có từ thời Lê, tên chữ “Ân Quang Tự”, mặt nhìn về phía đông–bắc. Chùa tọa lạc trên một khu đất cao ở mé tây–bắc thôn Kim Quan, xã Việt Hưng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Trước năm 1945, xã nguyên là phần đất các xã Kim Quan, Lệ Mật, Trường Lâm, thuộc tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh. Ngày 6 tháng 11 năm 2003 thành lập quận Long Biên thuộc nội thành Hà Nội, xã Việt Hưng đổi thành phường Việt Hưng, đình và chùa Kim Quan ở tổ 4.

Ngày 16-6-1992, ngôi chùa và đình làng Kim Quan đã được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.

Kiến trúc

Chùa Kim Quan hiện nay có phạm vi đất bị thu hẹp do chiến tranh và quá trình đô thị hoá gây ra. Sau tam quan và sân trước là toà tiền đường gồm 3 gian, 2 dĩ, tường hồi bít đốc tay ngai. Phía trước mở 3 lối ra vào, cánh làm kiểu thượng song hạ bản, chấn song con tiện, phần bức bàn chạm khắc trang trí các đề tài như: tùng, trúc, cúc, mai tượng trưng cho 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông, kèm theo là các hình như cuốn thư, quả đào, quả Phật thủ...

Dưới mái ngói ri có các bộ vì kèo, cấu tạo thượng chồng rường, hạ kẻ, làm đơn giản theo lối bào trơn đóng bén, đầu con rường tạo nổi hình hổ phù. Đề tài chạm khắc trên các mảng kiến trúc gỗ chủ yếu là các hình tượng quen thuộc như rồng, mây, đao lửa, lá, mặt hổ phù… và các biểu tượng cho sức mạnh tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp (vân, vũ, lôi, điện) nói lên ước mong mưa thuận, gió hòa của cư dân nông nghiệp.

Thân các bẩy hiên được cách điệu hình rồng, phần mộng giữa cột và bẩy được che bởi thân rồng, tạo cho cấu trúc vừa chắc khoẻ lại vừa có được nét uyển chuyển, mềm mại. Đầu bẩy khắc hình “chữ Thọ”. Hàng cột hiên bằng gỗ lim, đường kính chừng 25cm. Toà thượng điện được kết nối với gian giữa của tiền đường theo hình “chữ Đinh”. Toàn bộ Phật điện, ban thờ sư Tổ của chùa và ban thờ Mẫu được sắp xếp trong cùng dãy chùa chính. Bên ngoài là mảnh vườn nhỏ.

Di vật

Nổi bật ở chùa Kim Quan là hệ thống 13 pho tượng tròn được tạo tác từ thế kỷ XVII đến XIX. Bên trên và trong cùng toà thượng điện là pho tượng A Di Đà trong tư thế ngồi tọa thiền, hai bên là tượng 2 vị bồ tát ở tư thế đứng cao 135cm: Đại Thế Chí tay đỡ dải mây trên có hình triện, Quan Thế Âm tay cầm ngọc và bình nước cam lồ. Thấp hơn là toà Cửu Long, xung quanh nền rồng có những đám mây điểm xuyết chư Phật và Bồ Tát. Bên trái tòa Cửu Long là tượng Phạm Thiên, bên phải là tượng Đế Thích ngồi trên ngai, cao 112cm. Ngoài tiền đường đặt các ban thờ Đức Thánh Tăng, ban thờ Mẫu, ban thờ Đức Ông và vị sư Tổ của chùa.

Hiện nay ngoài những pho tượng kể trên, trong chùa Kim Quan vẫn lưu giữ được 05 bia đá đặt ở tường hồi bên trái. Chủ yếu đó là những tấm bia khắc chữ Hán ghi việc hậu, bao gồm: Ấn Quang tự hậu ký (Duy Tân ngũ niên – 1911), Ấn Quang tự hậu bi (Khải Định lục niên – 1921), Hậu Phật bi ký (Bảo Đại nguyên niên – 1926), Ấn Quang tự bi ký (Bảo Đại lục niên – 1931), Ấn Quang tự hậu bi (Bảo Đại ... niên – chưa rõ năm).

Trong chùa còn có một số hiện vật khác từ thế kỷ XIX như: 01 bức đại tự đề chữ Hán “Ấn Quang tự”, 04 câu đối, 01 đôi chân đèn đồng, 04 bát hương sứ, 01 bát hương sành. Đặc biệt là quả chuông mang niên hiệu Khải Định tứ niên (1919) mang tên “Kim Quan tự chung”, cao 108cm, đáy 54cm, trên chuông có bài minh ghi lại việc thập phương và bản thôn góp công đức tu sửa chùa. Phần dưới chuông trang trí bằng các hình tượng Long, Ly, Quy, Phượng và hoa lá cách điệu.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?