Ang Phao village temple

Miếu làng Áng Phao

Temple du village Ang Phao

templeThanh Oai district1st Chinese occupationĐáy river

Miếu làng Áng Phao có từ khoảng thế kỷ XVIII. Thờ: Châu trưởng Cư Sĩ và hai vị đại vương âm phù. Vị trí: RQ28+4G, thôn Áng Phao, xã Cao Dương, H. Thanh Oai, TP. Hà Nội. Cách BĐX Bờ Hồ: 35km (hướng 7h). Toạ độ: 20°48’01"N 105°45’59"E. Trạm bus lân cận: 47 Phố Vác - QL21B (xe 78, 91, 103a, 103b)

Sân miếu Tam vị đại vương. Ảnh NCCong ©2020

Thần tích

Thời Tây Hán, ở đất Long Biên có một người gốc Quảng Tín Thương Ngô. Ông họ Dương, có tổ tiên được phong ơn lộc, lấy người địa phương làm vợ là Tạ Thị, húy Cẩn, cũng là một gia đình có truyền thống thi lễ trâm anh, môn đăng hộ đối. Ông tinh thông y thuật, hay hành thiện giúp người. Cả hai vợ chồng đều làm việc thiện, cứu người. Ông tuổi đã 50 còn Tạ Thị ngoài bốn mươi mà chưa có con trai.

Một tối Tạ Thị nằm mơ thấy một tinh rắn nhập vào. Từ đó thấy trong người có mang. (Ngày 8 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ) sinh được một con trai, tư chất lạ thường. Vợ chồng ông rất yêu quý. Nuôi nấng được 3 năm, tính cách hình dạng đã nên. Ông mới đặt tên là Cư Sĩ, để có thể biết lễ nghĩa, biết kính nhường, biết học văn, nghe hiểu âm nhạc. Bảy tuổi đi học, sách vở đọc một lần là nhớ, lại thông kinh sử, biết võ nghệ. Các học trò đương thời đều rất thán phục, cùng gọi là Thánh đồng.

Khuôn viên miếu Tam vị đại vương. Ảnh NCCong ©2020

18 tuổi, cha mẹ đều mất. Sĩ Công tìm đất tốt làm lễ an táng. Ba năm chịu tang, hương lửa trong nhà phụng thờ theo nghi lễ. Ông lại có tâm khuyến khích sự học, dạy dỗ người dân. Thấy sự giáo hóa ở Giao Châu chưa được mạnh đủ, Ông dần dần khuyên dụ lễ nghĩa trong dân. Phong tục tốt đẹp của Nam Châu là công của Ông vậy. Nhân dân đều kính mộ, tôn Ông là Châu trưởng.

Khi Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu, nghe nói Sĩ Công giáo hóa phục dân đã dâng biểu tấu. Vua bèn phong cho Ông là Liệt hầu. Ông nhận tước phong, theo mệnh Vua đi các huyện ấp, xem xét phong tục nhân dân.

Một ngày Sĩ Công đến trại Áng Phao, huyện Thanh Oai, phủ Phụng Thiên, thấy phong tục nhân dân còn lạc hậu, việc học còn yếu. Ông bèn xem xét vùng đất này, thấy một địa thế có thế cục sông núi cùng chầu, rồng bao xung quanh, cũng là một nơi phong quang thắng cảnh. Ông liền truyền cho quân sĩ cùng nhân dân lập một học đường ở trại Áng Phao để dạy dân văn tự. Được một năm, nhân dân kính mộ, trở thành một làng có lễ nghĩa.

Khi đó các tù trường 7 quận Chu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lãnh làm loạn, xáo động nhân dân. Do đó Vua nghe vậy hỏi vấn các đình thần để định kế sách. Vua mới phong Sĩ Công làm Thái thú ở châu. Vua cử Công có đức cao phục người, tất có khả năng yên định, có thể dẹp giặc. Một ngày Ông về học đường ở trại Áng Phao, truyền quân sĩ cùng với người trong trang mổ trâu làm lễ tế cáo trời đất, cầu đảo núi sông trăm thần đến hưởng. Sĩ tử các trang, nhân dân nơi nơi đều tin phục.

Miếu Tam vị đại vương. Ảnh NCCong ©2020

Tối đó, Ông nằm trong học đường, tới đầu canh tư mông lung vào mộng. Thấy hai người nam, quần áo chỉnh tề, hình dáng cao lớn, tay cầm kiếm, theo đường trên mà tới, tự xưng chúng tôi là dòng dõi nhà họ Hùng, tên một người là Tri Huyễn, người thứ hai là Đông Tẩy. Thấy Ông có đức lớn dạy dân chữ viết, lễ nghĩa có oai. Nay Ông vâng mệnh Hoàng đế cử đi dẹp giặc. Ông lại về học đường bái yết trời đất trăm thần, lòng Trời cảm động, đã sai anh em chúng tôi linh thiêng phụng mệnh Thiên đình. Chúng tôi hiện đến, tự nguyện kết làm anh em, âm phù trợ giúp. Dẹp được giặc dữ, ngày sau xin được cùng phối phụng thờ.

Thần nhân dứt lời thì bay lên không mà biến (thần mộng ngày 10 tháng 3). Sau khoảnh khắc Ông tỉnh lại, biết có 2 vị linh thần âm phù trợ giúp. Rạng ngày Ông làm lễ bái tạ. Phụ lão ở trại tâu rằng:
– Từ khi Ông làm ở học đường dạy dân mà được yên ổn, lấy đức phục người. Trang này xin được báo đáp. Nhân nay thỉnh lấy chỗ đang là học đường, sau là nơi thờ cúng.

Ông đồng ý, và nói:
– Trại của các ngươi đã có lòng sâu với ta, sẽ trọng mệnh của ta muôn năm sau ở trại này. Tối qua ta nằm mộng thấy 2 vị linh thần âm phù trợ giúp, tự xưng tên một người là Tri Huyễn, một người là Đông Tẩy, giúp ta dẹp giặc. Ta cho các ngươi 10 hốt vàng để ngày sau dùng cho việc thờ phụng. Cũng cung thỉnh cả 2 vị linh thần tên như vậy cùng phối thờ.

Ông tuyển lấy ở trại các sĩ tử cùng các đệ tử cường tráng trong trang, được 300 người, lấy làm gia thần theo Ông dẹp giặc. Rạng ngày thấy sứ thần mang chiếu thư đến triệu Ông đem binh về kinh. Vua mới ủy quyền cho Ông truyền hịch đi các phủ huyện để nhân dân giúp lương gạo. Trong ngày đó Thái thú Sĩ Công xuất 2 vạn binh đến thẳng quận Cửu Chân. Ông truyền cho tướng sĩ phân các nơi giữ yên thế thủ, không được khiêu chiến.

Đại bái miếu Tam vị đại vương. Ảnh NCCong ©2020

Một ngày Ông soạn văn rồi sai mang chiếu dụ về việc tín nghĩa và họa phúc. Giặc đều xem văn mà sợ, bỏ giáp lại hàng. Từ đó quận được yên. Vua triệu Ông khải hoàn trở về, mở tiệc lớn chiêu đãi, phong cấp cho các tướng sĩ có công. Sĩ Công tâu rằng:
– Bảy quận được dẹp yên là nhờ có thần âm phù trợ giúp.

Vua nghe được việc này là đang chờ phong hậu. Vua liền phong cho Sĩ Công làm Thái thú ở nhậm sở tại huyện Thanh Oai, phủ Phụng Thiên, đạo Sơn Nam Thượng (sau đổi sang thành Thăng Long).

Một ngày trời mùa đông, Ông đang ngồi ở phủ đường bỗng thấy trời đất hiện một đám mây vàng lớn, như hình một dải lụa đỏ, từ trên trời mà giáng hạ vào trong doanh trại. Bỗng thấy Ông thân theo mây mà bay đi. Cho tới khi trên lầu không nhìn không thấy nữa tức là Ông đã hóa (vào ngày 10 tháng 11). Nhân dân và quân sĩ đều kinh sợ hành lễ, tấu lên triều đình. Hán Đế sai sứ đến sắc phong cùng với dụ chỉ tế văn đến nơi. Sắc phong tên gốc thần hiệu cùng với thần hiệu của 2 vị âm phù, sai sứ sắc phong thần hiệu cho ba vị:
– Phong Cư Sĩ Hiển ứng Đại vương. Tặng phong Phúc nhân Tế thế Hộ quốc Khang dân Thượng đẳng phúc thần.
– Phong Tri Huyễn Linh quang Đại vương.
– Phong Đông Tẩy Linh ứng Đại vương. Tặng phong hai vị Linh thông Bảo khao Hiển hữu Trợ thắng Đại vương.

Từ đó về sau đều có nhiều sự linh ứng, cũng có nhiều đời đế vương gia phong thêm mỹ tự. Cho trại Áng Phao cùng các sĩ tử ở trong các khu trang phụng thờ lâu dài. Tốt thay!

Hậu cung miếu Tam vị đại vương. Ảnh NCCong ©2020

– Đến hoàng triều Cảnh Hưng năm thứ 44, ngày 16 tháng 7 sắc phong.
– Hoàng triều Cảnh Thịnh năm thứ 2, ngày 26 tháng 1 sắc phong.
– Hoàng triều Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7 sắc phong.
– Hoàng triều Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 1 sắc phong.
– Hoàng triều Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8 sắc phong.
– Hoàng triều Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7 sắc phong.

Phụng sao tích thánh y như bản cũ.
– Chính hương hội xã Áng Phao: Nguyễn Thư Thành
– Xã trưởng: Nguyễn Thư Thiện.

Kiến trúc

Miếu làng Áng Phao nằm gần nghĩa trang ven cánh đồng phía nam. Du khách theo con đường làng đi qua cầu quán thì rẽ trái và sẽ thấy cổng nghi môn dẫn đến một sân dài thấp thoáng phía sau rặng cây. Toà đại bái gồm ba gian hai dĩ, tường hồi bít đốc tay ngai, mặt quay về gốc bồ đề rất lớn ở phía đông nam. Hai mái lợp ngói ri, khung gỗ bên dưới bào trơn đóng bén, trang trí sơ sài.

Tiếp theo là một sân ngắn, ở giữa xây bệ gạch để chủ tế quỳ khi làm lễ. Hai bên sân đều có cửa ngách ăn thông ra khu vườn râm mát dưới tán lá của các cổ thụ trong một khuôn viên rộng, bên hữu có ao bán nguyệt, bên tả là nhà dân. Ở phía sau sân là toà hậu cung ba gian bốn mái thâm nghiêm, trang trí nơi đây cũng đơn giản. Bên trong cung cấm có đặt long ngai bài vị của Châu trưởng Cư Sĩ và hai đại vương âm phù, đồng thời là ba thành hoàng làng.

Bản đồ trực tuyến

Di tích lân cận

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?