Ha Noi Panorama

Chu du cùng Nguyễn Chí Công

Trang nhà > Giới thiệu > Hỗ trợ > Phật A-di-đà

Amitābha

Phật A-di-đà

阿 彌 陀 佛

Thứ Bảy 19, Tháng Mười Hai 2020, bởi Cong_Chi_Nguyen

A-di-đà Phật (chữ Hán 阿 彌 陀 佛) được phiên âm từ chữ Phạn Amitābha, nghĩa là ánh sáng vô lượng, còn được biết đến với tên gọi Amitāyus (có nghĩa là thọ mạng vô lượng), cho nên Ngài được xem là đức Phật Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang hoặc Tiếp Dẫn đạo sư (thầy đạo tiếp đón chúng sinh). Trong 2 truyện Phong thần diễn nghĩa và Tây du ký đều có nhân vật mang tên này nhưng được miêu tả với ngoại hình khác. Là một trong những vị Phật được thờ trong Đại thừa (Mahāyāna), Ngài cư ngụ ở tịnh thổ phía Tây và đến với chúng sinh để cứu độ.

Theo Đại Kinh A-di-đà (Sukhāvatīvyūha), trong kiếp trước A-di-đà là 1 vị sư tên gọi Pháp-tạng (Dharmākara), nguyện khi đắc quả Phật sẽ tịnh hoá và trang nghiêm thế giới Cực lạc (Sukhāvatī) ở phía Tây, một trong những cõi thanh tịnh và đẹp đẽ nhất. Rồi trở thành Phật và cư ngụ tại đó, Ngài đến thế giới của chúng ta, cùng các bồ tát chào mừng những chúng sinh đã khuất và dẫn họ đi tái sinh trong tịnh thổ của Ngài.

Vào khoảng đầu Công nguyên, danh hiệu A-di-đà bắt đầu xuất hiện như một vị trong bộ Ngũ phương Phật, cư ở phía Tây. Tín ngưỡng A-di-đà được phát triển cùng với phương pháp hành trì thời kỳ đầu của Đại Thừa là cầu khấn và thờ "mọi vị Phật" và hình tượng vài vị trong số đó đang sống ở những thế giới "thanh tịnh" xa xôi, chẳng hạn như Phật A-súc-bệ (Akṣobhya) cũng trong bộ Ngũ phương Phật nhưng có tịnh thổ ở phía Đông gọi là Diệu Hỷ (Abhirati).

A-di-đà cũng giống những vị Phật Đại thừa khác, nhưng thường được gắn với ánh chiều tà hay ánh trăng rạng rỡ, lan khắp vũ trụ mà không thiêu đốt hay làm mù loà. Ngài thường được thể hiện với ấn thiền định dhyānamudrā, ngụ ý 500 kiếp thiền định đã đưa Dharmākara đến giác ngộ. Một thủ ấn khác cũng hay được thể hiện trong tư thế đứng là ấn vô uý abhayamudrā (hộ trì khỏi sự sợ hãi và nguy hiểm).

Thờ A-di-đà như một trong những vị cứu thế hay sự liên kết giữa niềm tin vào Ngài và những năng lực siêu việt của bồ tát Quán Thế Âm, là những chủ đề phổ biến xuyên suốt Phật giáo Châu Á. Không phải là tự nhiên mà Panchen Lama (Ban thiền Lạt-ma) của Tây Tạng lại được xem là tái sinh của A-di-đà.

Tên A-di-đà lần đầu tiên được nhắc đến trong Kinh Vô Lượng Thọ, được cho là 1 bài thuyết của Phật Thích Ca khi còn sống. Đến nay các bằng chứng khảo cổ mới chỉ tìm thấy Kinh Vô Lượng Thọ và các ghi chép cổ nhất về A-di-đà vào khoảng thế kỷ I trước công nguyên ở phía nam Ấn Độ, sau đó hoạt động viết kinh sách bổ sung được tiếp tục ở phía bắc.

Một số kinh điển đầu tiên của Đại thừa đã được dịch bởi nhà sư Kushan Lokakṣema, người từng đi từ vương quốc Gandhāra đến Trung Quốc. Bản dịch đầu tiên của sư xuất hiện tại kinh đô Lạc Dương của nhà Đông Hán khoảng từ năm 178 đến 189 tức thế kỷ thứ II.

Phật tử Tịnh độ tông thường tụng "Nam Mô A-di-đà Phật" (Kính lễ đấng Giác ngộ vô lượng), tin rằng niệm một lần danh hiệu của Ngài thì sẽ tiêu được muôn kiếp nặng tội. Trong Phật giáo Tây Tạng, đại sư Liên Hoa Sinh và Panchen Lama (Ban thiền Lạt-ma) được xem là một hóa thân của A-di-đà. Nhưng ở Lhasa thì Dalai Lama (Đạt-lai Lạt-ma) được xem là sự tái sinh của bồ tát Quán Thế Âm, dù bản thân Dalai Lama đã phủ nhận.

Rất phổ biến niềm tin rằng tịnh thổ Sukhāvatī được ban phúc bởi 2 vị bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Việc trì tụng danh hiệu A-di-đà có thể mang bồ tát Quán Thế Âm đến cứu giúp người tụng niệm. Sự trùng lắp nhiều niềm tin và phương pháp thực hành khác nhau, giống như sự chồng chéo của những vị cứu thế và những hình tượng thiêng liêng, có lẽ đó là bối cảnh cho sự xuất hiện của A-di-đà ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản.

Phật tử Tịnh độ tông tin rằng Niệm Phật A-di-đà và tu Tịnh độ là cách nhanh nhất để đạt được giải thoát, ai cũng làm được. Còn Thiền tông cho rằng thiền là để tự giải thoát, Phật không thể giúp ai, chỉ có ta tự giúp ta. Phật tử Phật giáo nguyên thủy hoặc Thiền tông không tụng niệm câu này.

Theo giáo lý Tịnh độ thì từ này ý nghĩa sâu xa, ngoài việc là tên của Phật, còn có ý nghĩa nhắc người tụng niệm ý thức thân phận yếu hèn của mình, dựa vào thần lực của phật để vượt thắng tội lỗi và yếu đuối của bản thân nhằm đứng vững đế đến lúc chết được Phật A Di đà đón vào cõi Cực Lạc tiếp tục tu đạo để được giải thoát.

Theo Kinh Vô Lượng Thọ thì có muôn ngàn phương pháp chứ không chỉ có đi Tu mới thành Phật. Tùy theo từng hoàn cảnh của từng người cụ thể mà họ có thể tự do lựa chọn cho mình phương pháp để Thức Tỉnh hay Giác Ngộ (tức đạt được Giải Thoát hoàn toàn).

Kinh Vô Lượng Thọ cho rằng trong vạn pháp thì con đường của A-di-đà là ngắn nhất dành cho mọi loài để thành Phật chỉ trong một kiếp sống, rằng pháp đó sẽ là con đường duy nhất còn tồn tại trăm năm nữa sau khi mọi pháp khác bị lãng quên vào thời mạt pháp và cho đến hết thời mạt pháp.

Người tin vào pháp môn Tịnh độ (nhận trợ lực của A-di-đà để tái sinh vào Cõi cực lạc tiếp tục tu thành Phật) chủ yếu sống ở các nước Đông Á. Còn ở Nam Á và Ấn Độ thì có truyền thống tu thiền phổ biến hơn.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?