Ha Noi Panorama

Chu du cùng Nguyễn Chí Công

Trang nhà > Đền miếu > Đền Am

Den Am temple

Đền Am

Temple Den Am

Thứ Sáu 15, Tháng Giêng 2021, bởi Cong_Chi_Nguyen

Đền Am có từ thời Lê. Thờ: Phúc Vương Tranh. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1992). Vị trí: XPXW+V3, ngõ 193 phố Cầu Cốc, P. Tây Mỗ, Q. Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Cách BĐX Bờ Hồ: 14km (hướng 8h). Trạm bus lân cận: Chùa Phú Thứ (xe 57), CH Xăng Dầu 21 Tây Mỗ - Đường 72 (xe 89)

Tam quan đền Am. Photo NCCong ©2021

Lược sử

Đền Am thờ hoàng tử thứ 6 của vua Lê Thánh Tông và Tài nhân họ Nguyễn người làng Thiên Mỗ, nay thuộc phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội [1]. Ngài sinh ngày 17 tháng 3 năm Quang Thuận thứ 8 (1467), tên húy là Tranh. Ngày Tân Hợi 7 tháng 10 năm Tân Mão, Hồng Đức thứ 2 (1471), ngài được vua ban tước Phúc Vương và xây phủ ở phường Đông Tác, huyện Vĩnh Xương tại kinh đô.

Đền Am. Photo NCCong ©2021

Phúc Vương mất ngày 6 tháng 8 năm Cảnh Thống thứ 3 (1500), an táng tại quê mẹ ở xứ Đồng, xóm Hạnh Hoa, xã Tây Mỗ. Trên mộ của ngài có dựng một tấm bia lớn đề 3 chữ Hán “Hạnh Hoa Khê”, dân làng quen gọi là Mả Bia. Dãi dầu mưa nắng nên bia bị mờ hết chữ, may sao nội dung bài văn đã được ghi lại trong gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Tây Mỗ. Phả viết bằng chữ Hán, tiếc rằng đến thời Tây Sơn bị hoả hoạn đốt mất. Nay chỉ còn bản chữ quốc ngữ do người cháu 17 đời dịch ngày 27 tháng 11 năm Canh Thìn (1940).

Dân làng vẫn tổ chức Lễ hội hàng năm vào mồng 6 và 7 tháng 8 âm lịch để tưởng niệm ngày mất của Phúc Vương Tranh. Đền Am [và đình Tây Mỗ] đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng ngày 22-4-1992 là Di tích kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.

Kiến trúc

Đền Am được dựng vào khoảng thế kỷ XVII trên mảnh đất rộng ven con đường làng, nay gọi là ngõ 193 phố Cầu Cốc. Sau nhiều lần tôn tạo, ngôi đền mang dáng vẻ kiến trúc truyền thống với phong cách nghệ thuật thời Nguyễn muộn hồi cuối thế kỷ XIX. Trong khuôn viên có nhiều cổ thụ, bên cạnh đền chính còn có các công trình mới xây năm 2010, nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long—Hà Nội.

Sân đền Am. Photo NCCong ©2021

Tam quan mới xây theo kiểu của chùa Láng nhưng nhỏ hơn và xoay hướng bắc. Mặt ngôi đền cũ nhìn về hướng đông qua một sân rộng rồi tới bức bình phong đắp cuốn thư ngăn với ao sen rộng và cánh đồng. Hiện còn lưu giữ được hai câu đối chữ Hán:
Hạnh hạng bồi nguyên hoa mãn địa
Lê triều di tích trụ kình thiên.

Mặt bằng của đền Am bố trí thành hình “chữ Đinh”. Toà tiền tế có hàng hiên nhỏ, 3 gian cửa bức bàn, mái lợp ngói ri, bên trong cấu trúc đơn giản, bày các ban văn võ. Hậu cung thờ bá quan và trên thượng điện trong cùng có đặt ngai thờ Phúc Vương.

Di sản

Trong đền Am vẫn lưu giữ được 02 đạo sắc phong. Tờ sắc “Lê triều Phúc Vương dực bảo trung hưng lệnh phù tôn thần…” không rõ niên đại vì đã bị rách nhiều chỗ; tờ sắc “Hà Đông tỉnh, Hoài Đức phủ, Tây Mỗ xã phụng sự Lê Phúc Vương Tranh…” ghi ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924). Ngoài ra lại còn 05 câu đối, 01 bức đại tự, 01 tập thờ, 04 long ngai, 01 cỗ song loan, 01 khám thờ, 05 bát hương đời Thanh, 07 lọ hoa men trắng, 06 bia đá và 01 quả chuông đồng được đúc vào thế kỷ XIX.

Tiền tế đền Am. Photo NCCong ©2021

Phía tường bên trái trong đền là bia “Tập thiện hội bi”, được lập ngày 3 tháng 9 năm Thành Thái thứ 11 (1899). Bia cao 90cm, rộng 50cm, khắc chữ Hán. Nội dung bia ghi các ngày lễ và lễ phẩm (trị giá tiền) của các thí chủ – hội viên Hội thiện đóng góp vào đền Am để cúng Phúc Vương. Bên phải lại có một bia khác cùng tên, cùng kiểu và kích thước, được lập ngày 21 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 3 (1928). Nội dung bia ghi việc trùng tu và ghi tên các thành viên Hội thiện cúng tiền, ruộng vào đền Am.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến


Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1“Tài nhân họ Nguyễn người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm. Tổ 5 đời là Nguyễn Văn Bình, làm quan ở Viện Xu mật. Tổ 4 đời là Thần, làm Nhập nội hành khiển kiêm Tri thẩm hình viện sứ. Ông nội là Văn Hiến, làm Chủ bạ, đều là quan có tiếng thời Trần. Cha là Đình Hy làm quan triều ta, giữ chức Thái Trung đại phu Thượng thư tự khanh, Hộ bộ Tả thị lang. Mẹ họ Chu. Bà được tuyển vào cung vua Thánh Tông. Ngày Nhâm Thìn tháng 3 năm Quang Thuận thứ 8, sinh ra Phúc Vương Tranh. Bà mất ngày Giáp Tý, tháng 7 năm Kỷ Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 10, thọ 35 tuổi, đem về mai táng ở phía bắc khe Tùng thuộc quê nhà”. (Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử).

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

Diễn đàn ghi danh mới được đăng

Trước khi tham gia vào diễn đàn này, bạn phải ghi danh. Nếu chưa ghi danh, bạn phải ghi danh.

Đường nốighi danhquên mật mã?