907 Tho Tang village hall

ĐÌNH THỔ TANG

Vĩnh Phúcs.Hồngt.Trần

Đình Thổ Tang có từ thế kỷ XVII. Thờ: thành hoàng Lân Hổ, thân mẫu ngài và Thần Nuôi Ná. Xếp hạng: di tích quốc gia đặc biệt (2018). Vị trí: 7F3Q+VV, TT Thổ Tang, TP Việt Trì, Vĩnh Phúc. Cách BĐX Bờ Hồ: 60km (hướng 10h). Trạm bus lân cận: Lối rẽ cầu Vĩnh Thịnh (xe 70, 70B, 76, 92)

Lược sử

Thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là quê hương của liệt sĩ Nguyễn Thái Học (1902–1930) và ông Vũ Hồng Khanh ̣(1898–1993), hai lãnh tụ chống Pháp của Việt Nam Quốc dân đảng. Nơi đây có ngôi đình Thổ Tang nổi tiếng, tức đình Địa Tang hay Địa Giang, Địa Quang, dân còn gọi là đình Chính để phân biệt với một ngôi đình nữa của làng là đình Có hay đình Phụ.

Đình Thổ Tang được xây dựng từ thế kỷ XVII và đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Trong hậu cung đình thờ đức thành hoàng Lân Hổ, thân mẫu ngài và Thần Nuôi Ná. Lân Hổ là một vị tướng có công giúp vua Trần đánh giặc Nguyên sang xâm lược nước ta. Ngài quê ở làng Đồng Bằng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây cũ.[1]

Đình Thổ Tang. Panorama ©NCCong 2019

Dân làng Thổ Tang đã lập đền thờ ngài, về sau xây được đình thì rước bài vị vào hậu cung. Suốt từ Dục Mỹ- Sơn Vi (Phú Thọ) đến Vĩnh Tường - Yên Lạc (Vĩnh Phúc) hiện cũng có nhiều di tích thờ Lân Hổ.

Lễ hội đình làng Thổ Tang được tổ chức hàng năm vào mùa xuân từ ngày 10 đến ngày 12 tháng giêng âm lịch. Trong dịp này có diễn ra các nghi lễ rước sắc, nghinh hương từ đền Trúc Lâm và miếu Nhà Nuôi về, ngoài ra còn có lễ Nghinh Quan Anh, thi Ông Đô và các trò chơi, diễn xướng dân gian khác.

Theo Quyết định số 29–VH/QĐ ngày 13/01/1964 ngôi đình Thổ Tang đã được Bộ Văn hoá xếp hạng là Di tích quốc gia. Ngày 24/12/2018, đình lại được nâng hạng Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1820/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Uống rượu

Kiến trúc và điêu khắc

Đình Thổ Tang có mặt bằng xây dựng hình “chữ Đinh”, diện tích gần 400m2. Kết cấu bộ vì chính của đại đình theo kiểu “chồng rường, giá chiêng”, liên kết phía dưới theo lối “thượng chồng cốn, hạ kè bẩy”, khá đặc trưng cho các ngôi đình có niên đại sớm (thế kỷ XVII-XVIII). Đại đình gồm 5 gian, 2 dĩ với 60 chiếc cột làm bằng gỗ tốt. Cột cái có đường kính 80cm, cột con đường kính 61cm. Nền dài 25m8, rộng 14m2, bó đá xanh xung quanh.

Hậu cung sâu 2 gian, bên trong bày long ngai bài vị của ba thành hoàng. Năm 1964 hậu cung cũ bị dỡ, năm 1995 mới được phục hồi. Bộ cửa võng được chia làm 3 tầng và chạm trổ rất tinh tế. Tầng trên chạm hình hai rồng mẹ và 18 rồng con đang vờn viên ngọc. Tầng giữa chạm rồng chầu mặt trăng, hai bên có hai chim phượng đang bay cùng nhiều đao mác vân mây. Tầng dưới chạm hình lục tiên, cửu trùng, gai dứa. Trên cửa võng có treo bức hoành phi đề 3 chữ Hán "Hòa Vi Quý".

Bát tiên quá hải

Toàn bộ tác phẩm điêu khắc của đình Thổ Tang đã được các nhà nghiên cứu đưa vào lịch sử văn hóa Việt Nam như những điển hình của nghệ thuật thế kỷ XVII. Trong đình hiện còn 21 bức điêu khắc gỗ đặc sắc và nhiều cổ vật quý khác. Những bức nổi tiếng nhất chạm cảnh ngày hội, đi cày, chăn trâu, đá cầu, đấu vật, múa đôi, bắn hổ, đánh cờ, uống rượu, nghỉ ngơi, cảnh đời thường, đánh ghen, con mọn, cảnh vũ nữ cưỡi rồng, bát tiên quá hải, v.v…

Bức “Đá cầu” kích thước 40cm x 40cm đặt ở ngách cột cái gian bên cạnh. Trên gỗ là hình hai người đầu đội mũ quả lựu, áo thắt đai, cổ và ngực chạm hoa rất đẹp, mỗi người giơ một tay gác chéo lên nhau, một chân nâng lên vuông góc ở tư thế đá cầu, quả cầu tròn nằm ở lòng bàn chân. Phía sau ở khoảng giữa hai người có một con nghê nhô đầu ra trông rất ngộ nghĩnh.

Ngày hội xuống đồng

Bức “Ngày hội xuống đồng” chạm trên một kẻ nghé ở hè đình cạnh cửa ra vào, có kích thước 135cm x 70cm. Cả 25 nhân vật đều được chạm bóng, nổi bật hình con trâu bị kéo mũi và người nông dân đang chăm chú điều khiển đường cày trong ngày hội thi trước đông đảo các quan viên và dân làng. Xung quanh là những người cầm cuốc, vác những bó mía, thổi tù và, đánh đàn. Bên trên có vị đội mũ cánh chuồn đang ngồi, tay cầm quạt tay bưng bát rượu bên cạnh cái mâm và một người chắp tay đứng hầu. Lại có người cưỡi ngựa đi xem hội…

Bức “Múa đôi” có kích thước 105cm x 70cm, chạm hai người đầu chít khăn đang múa uyển chuyển, tay cong xòe rộng; một khán giả vuốt râu ngắm nhìn, phía dưới là một con rồng.

Múa

Bức "Cuộc đời thường" được đặt bên trái cửa võng gần hậu cung, có kích thước 140cm x 75cm. Ở giữa chạm cảnh yêu đương hồn nhiên: cô gái quàng tay qua cổ bạn tình còn chàng trai đặt một tay lên ngực cô. Bốn góc chạm cảnh gia đình chăm chỉ: chồng nằm sấp, tay cầm thẻ, tay cầm bút, bên cạnh là vợ bế con. Phía trên góc trái của tác phẩm lại tả cảnh nghỉ ngơi: chồng nằm nghiêng, chân co, chân duỗi; vợ ngồi cạnh đang xoa bóp đùi chồng, hai người đều cười. Phía dưới chạm cảnh đánh ghen: người chồng vũ phu một tay chống nạnh một tay vác gậy trước người đàn bà tay khoanh trước ngực nét mặt buồn, dưới chân có đứa trẻ, v.v…

Cuộc sống đời thường

Bức “Bắn hổ” được đặt ở gian bên phải trong đình, có kích thước 80cm x 60cm; chạm người đi săn và con hổ trên vách núi. Chàng trai ghì súng trước ngực, chân trái hơi khuỵu, chân phải duỗi thắng, áp mình vào đá ở tư thế tiến công, mắt dõi theo súng chĩa về phía con hổ đang ở tư thế bị động, một chân trước múa vờn, một chân sau đưa lên gãi tai, miệng như gầm gừ…

Di tích lân cận

  • Chùa Tùng Vân.
  • Di chỉ Đồng Đậu.
  • Đình Bích Chu.
  • Đình Cam Giá.
  • Đình Đông Đạo.
  • Đình Hòa Loan.
  • Đình Thủ Độ.
  • Miếu Trúc Lâm.
Bắn hổ

Chú thích
[1] Tương truyền Phùng Thị Dung nhà nghèo phải làm nghề tiều phu vất vả. Một hôm, bà vào rừng Tô Lâm hái củi, lúc về đến cửa rừng nghỉ thì vì mệt mà ngủ thiếp đi. Bỗng có đám mây hồng bay đến bao quanh rồi tiếng hổ gầm làm bà giật mình tỉnh dậy. Về nhà tự nhiên mang thai, sau sinh ra một bé trai xinh xắn, sáng sủa. Thầy đồ trong làng đến xem tướng nói rằng: Cậu này không phải kỳ lân ắt là mãnh hổ. Nghe vậy bà liền đặt tên Lân Hổ. Chàng lớn lên có sức vóc hơn người, học giỏi và có tài thao lược. Khi vua Trần xuống chiếu vời người tài giúp nước, Lân Hổ xin mẹ cho đi và được làm bộ tướng ngăn cánh giặc Nguyên ở mặt Bắc. Ngài dẫn quân lên Gia Ninh lập một phòng tuyến chiến đấu bền bỉ, tiêu diệt nhiều địch. Sau chiến thắng, triều đình luận công, Ngài được ban tước hầu và thăng chức nhưng lại từ chối xin được về quê phụng dưỡng mẹ già. Mấy năm sau, quân Nguyên sang đánh báo thù. Lân Hổ lại được vời ra chỉ huy chiến tuyến Gia Ninh – Dục Mỹ. Lần này rất đông giặc đến bao vây, Lân Hổ cuối cùng đã hy sinh anh dũng. Vua cho xây lăng mộ, phong tước Lân Hổ hầu Đô thống Đại vương và ra lệnh tế ngài theo quốc lễ.

©NCCong 2019 Tho Tang village hall